"Học để làm việc, làm người, làm cán bộ. Học để phụng sự đoàn thể, phụng sự giai cấp và nhân dân, phụng sự Tổ quốc và nhân loại. Muốn đạt được mục đích thì phải cần, kiệm, liêm, chính, chí công, vô tư". (Hồ Chí Minh)

 Chi tiết bài viết
Báo cáo đề dẫn "Xây dựng đội ngũ khoa học kế cận đáp ứng yêu cầu nhiệm vụ của Học viện Chính trị Quốc gia trong thời kỳ mới"

XÂY DỰNG ĐỘI NGŨ CÁN BỘ KHOA HỌC KẾ CẬN  ĐÁP ỨNG YÊU CẦU NHIỆM VỤ CỦA HỌC VIỆN CHÍNH TRỊ QUỐC GIA HỒ CHÍ MINH

TRONG THỜI KỲ MỚI

(Báo cáo đề dẫn Hội thảo)

 

Trong hơn 55 năm xây dựng và phát triển, Học viện Chính trị Quốc gia Hồ Chí Minh đã có những đóng góp quan trọng cho sự nghiệp cách mạng của Đảng và nhân dân ta. Học viện đã đào tạo cho Đảng, Nhà nước và hệ thống chính trị hàng vạn cán bộ lãnh đạo, quản lý trung, cao cấp, cán bộ lý luận chính trị; cung cấp nhiều luận cứ khoa học có giá trị cho việc hoạch định đường lối, chủ trương, chính sách của Đảng và Nhà nước. Trong mọi giai đoạn cách mạng, Học viện luôn thực hiện tốt chức năng là công cụ tổ chức và tư tưởng của Đảng. Với những thành tích đó, Học viện đã được Đảng và Nhà nước tặng thưởng nhiều phần thưởng cao quý như Huân chương Hồ Chí Minh, Huân chương Sao Vàng, và gần đây nhất là danh hiệu Anh hùng lao động trong thời kỳ đổi mới. Nguyên nhân của những thành công trên đã được đánh giá qua các lần tổng kết trước đây, và các đánh giá đều thống nhất nhận định: sự nỗ lực, cố gắng không mệt mỏi của các thế hệ cán bộ, đặc biệt là cán bộ khoa học của Học viện là nhân tố quyết định mọi thành công của Học viện.

Như chúng ta đều biết, đội ngũ cán bộ khoa học là lực lượng nòng cốt, là “đội quân chủ lực” trong quá trình thực hiện nhiệm vụ chính trị của Học viện. Chất lượng của đội ngũ cán bộ khoa học quyết định chất lượng công tác của Học viện, diện mạo, “bản sắc” của đội ngũ cán bộ khoa học quyết định diện mạo, bản sắc của Học viện, uy tín của đội ngũ cán bộ khoa học quyết định đến vị thế, uy tín của Học viện trong đời sống xã hội. Nhận thức rõ vị trí, vai trò của đội ngũ cán bộ khoa học trong quá trình phát triển của Học viện, Ban Cán sự đảng, Ban Giám đốc, Đảng uỷ Học viện luôn quan tâm chăm lo đến công tác xây dựng, đào tạo, bồi dưỡng cán bộ khoa học để đội ngũ cán bộ này đủ sức đáp ứng được yêu cầu nhiệm vụ. Nhờ vậy, Học viện đã có được một đội ngũ cán bộ khoa học khá đông đảo về số lượng với chất lượng không ngừng được nâng cao.

Tính đến tháng 8 năm 2005 tổng số cán bộ khoa học có học hàm GS, PGS và học vị từ  thạc sỹ trở lên là 404 người, chiếm 48,33% tổng số cán bộ, công chức, viên chức của Học viện, trong đó có 13 nhà giáo Ưu tú chiếm 1,55%; có 11 giáo sư, chiếm 1,32%; có 52 phó giáo sư, chiếm 6,22%; có 197 tiến sỹ, chiếm 23,56%; có 144 thạc sỹ, chiếm 17,22%; tổng số cán bộ, công chức, viên chức của Học viện. Số cán bộ khoa học có trình độ cử nhân chỉ có 90 người, chiếm 10,76%.

Đứng trên quan điểm lịch sử, cụ thể và toàn diện để đánh giá thì đội ngũ cán bộ khoa học của Học viện có những mặt mạnh rất cơ bản như: bản lĩnh chính trị vững vàng, trung thành với sự nghiệp cách mạng và mục tiêu xã hội chủ nghĩa; có lối sống lành mạnh, giản dị; tâm huyết với nghề nghiệp, say mê với công tác nghiên cứu, giảng dạy; tuyệt đại đa số được đào tạo cơ bản, đã được thử thách trong hoạt động thực tiễn cách mạng và có khả năng, năng lực tốt và có kinh nghiệm trong giảng dạy, nghiên cứu khoa học. Trên nhiều lĩnh vực chuyên ngành đã có những cán bộ có uy tín trong và ngoài Học viện, đang phát huy có hiệu quả năng lực nghiên cứu, tổng kết thực tiễn và giảng dạy lý luận chính trị. Một số cán bộ khoa học vừa là nhà giáo dục, nhà sư phạm, người thầy gương mẫu, vừa là nhà khoa học có nhiều công trình được đánh giá cao, có thể trở thành những nhà khoa học đầu ngành có uy tín. Một số đồng chí có khả năng sư phạm tốt, biết kết hợp một cách sáng tạo các phương pháp khác nhau, các phương tiện hiện đại cho từng môn học và từng đối tượng học viên mang lại hiệu quả cao, phát huy được tính chủ động, tích cực và sáng tạo của người học. Nhiều đồng chí luôn theo sát những vấn đề bức xúc nảy sinh từ thực tiễn để thu thập và xử lý thông tin, vì vậy các bài giảng luôn sống động, mang tính thời sự cao nhờ những tri thức thực tiễn và cách thức luận giải vấn đề khoa học từ thực tiễn đang đòi hỏi. Một số cán bộ khoa học được đào tạo ở nước ngoài có trình độ ngoại ngữ khá thành thạo trong nghiên cứu khoa học và trong giao tiếp. Trong những năm qua đội ngũ cán bộ khoa học của Học viện đã có những đóng góp xứng đáng vào sự nghiệp cách mạng của Đảng và của dân tộc; đã có bước trưởng thành vượt bậc cả về số lượng và chất lượng.

Tuy nhiên, bên cạnh những ưu điểm và sự trưởng thành rất cơ bản đó, chuyển sang thời kỳ mới, trước những yêu cầu mới, nhiệm vụ mới, đội ngũ cán bộ khoa học còn bộc lộ một số điểm hạn chế, bất cập như Nghị quyết 52 của Bộ Chính trị đã chỉ rõ. Đó là: “Chất lượng đội ngũ cán bộ giảng dạy, nghiên cứu còn một số mặt hạn chế, nhất là về khả năng cập nhật kiến thức khoa học hiện đại, hiểu biết thực tiễn đất nước và thế giới, về khả năng ngoại ngữ, tin học và sử dụng những phương pháp giảng dạy hiện đại”. Đặc biệt, do công tác xây dựng lực lượng kế cận còn chậm nên đội ngũ cán bộ khoa học của Học viện đã bộc lộ rõ sự hẫng hụt giữa thế hệ cán bộ khoa học hiện đang giữ vị trí chủ chốt trong hoạt động khoa học của Học viện với thế hệ cán bộ khoa học kế cận.

Một đội ngũ cán bộ khoa học mạnh là một đội ngũ có đủ về số lượng để có thể đảm đương được nhiệm vụ, có chất lượng cao để hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ, đồng thời phải đảm bảo cơ cấu hợp lý về mặt chuyên môn, giới tính, độ tuổi,….

Cơ cấu độ tuổi nói lên khả năng phát triển liên tục, bền vững của đội ngũ cán bộ khoa học. Cơ cấu về độ tuổi của đội ngũ cán bộ khoa học Học viện hiện nay như sau: dưới 30 có 63 người; 31 - 40 tuổi có 115 người; 41 - 50 tuổi có 127 người; 51 tuổi trở lên có 154 người. Cơ cấu này bất hợp lý vì cán bộ có độ tuổi cao chiếm tỷ lệ lớn, tỷ lệ cán bộ có độ tuổi dưới 30 quá thấp, chỉ chiếm 15,59%, không bảo đảm sự phát triển bền vững của toàn đội ngũ trong tương lai. Trên thực tế, nếu không tính đến yếu tố kéo dài thời gian công tác thì từ nay đến năm 2010 sẽ có 100 cán bộ khoa học về hưu, trong đó có: 23 GS,PGS ; 48 tiến sĩ và30 thạc sĩ. Như vậy, chưa tính đến nhân tố gia tăng về yêu cầu nhiệm vụ thì trong 5 năm tới Học viện vẫn phải đào tạo để thay thế cho số cán bộ khoa học nghỉ hưu. Trong thực tế, do sự phát triển của yêu cầu nhiệm vụ nên đội ngũ cán bộ khoa học cũng phải có sự phát triển tương ứng về số lượng và chất lượng thì mới có thể không bị hẫng hụt. Chính vì vậy, vấn đề xây dựng đội ngũ cán bộ khoa học kế cận cho tương lai, trước hết là cho giai đoạn 2010 - 2015 là nhiệm vụ trọng yếu vừa có tính cấp bách, vừa có tính chiến lược lâu dài của Học viện Chính trị quốc gia Hồ Chí Minh.

Bước sang thời kỳ mới, thời kỳ đất nước tiến hành đẩy nhanh quá trình CNH, HĐH nhằm đưa nước ta trở thành một nước công nghiệp; trong bối cảnh khu vực và thế giới có những diễn biến hết sức phức tạp, đặt nước ta trước những thời cơ và thách thức to lớn, đòi hỏi toàn Đảng, toàn dân phải đoàn kết, sáng suốt và nỗ lực cao để đạt tới mục tiêu đã đề ra. Trong bối cảnh đó, ngày 30 tháng 7 năm 2005 Bộ Chính trị đã ra Nghị quyết số 52- NQ/TW về đổi mới, nâng cao chất lượng đào tạo, bồi dưỡng cán bộ và nghiên cứu khoa học của Học viện Chính trị Quốc gia Hồ Chí Minh. Nghị quyết yêu cầu Học viện phải đổi mới mạnh mẽ, toàn diện công tác đào tạo, bồi dưỡng cán bộ, đẩy mạnh hoạt động nghiên cứu khoa học, tổng kết thực tiễn để ngang tầm với đòi hỏi của công cuộc đẩy mạnh công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước, xây dựng và bảo vệ Tổ quốc. Nghị quyết đã đề ra những quan điểm, định hướng lớn và chỉ ra những giải pháp cụ thể cần thực hiện trong quá trình thực hiện yêu cầu nhiệm vụ nêu trên. Về công tác xây dựng đội ngũ cán bộ khoa học,  Nghị quyết của Bộ Chính trị đã chỉ rõ: “Coi trọng việc xây dựng và thực hiện quy hoạch đào tạo, bồi dưỡng phát triển đội ngũ cán bộ giảng dạy, nghiên cứu, đặc biệt là cán bộ khoa học đầu ngành; có biện pháp mạnh và cấp thiết để sau một số năm đáp ứng đủ số lượng, bảo đảm chất lượng đội ngũ cán bộ giảng dạy và nghiên cứu cho Học viện”.

Để triển khai thực hiện tốt Nghị quyết của Bộ Chính trị về Học viện trên lĩnh vực công tác cán bộ khoa học, đòi hỏi sự sự thống nhất trong nhận thức và hành động của cả hệ thống chính trị ở Học viện, đặc biệt là sự đóng góp nhiệt tình của các đồng chí cán bộ lãnh đạo, quản lý, cán bộ khoa học chủ chốt, các chuyên gia đầu ngành trong Học viện. Xuất phát từ những vấn đề nêu trên, được sự đồng ý của Ban Giám đốc Học viện, sự giúp đỡ của Vụ Quản lý khoa học, Vụ Tổ chức - Cán bộ tổ chức hội thảo khoa học này với mong muốn chúng ta cùng nhau trao đổi và thống nhất được phương hướng, mục tiêu và những giải pháp mạnh nhằm xây dựng đội ngũ cán bộ khoa học kế cận đủ sức đảm đương được yêu cầu nhiệm vụ của Học viện trong giai đoạn 2010 - 2015.

Để có thể đề ra được phương hướng, mục tiêu và giải pháp đúng đắn, phù hợp trong công tác xây dựng đội ngũ cán bộ khoa học kế cận cho giai đoạn 2010 - 2015, trước hết chúng ta cần đánh giá được thực trạng của đội ngũ cán bộ khoa học trẻ hiện có.

            Như chúng ta đã biết, từ năm 1990 trở đi, Học viện đã chú trọng việc tuyển dụng những sinh viên mới tốt nghiệp loại khá giỏi các ngành khoa học xã hội và nhân văn để đào tạo cán bộ kế cận. Trong 15 năm qua chúng ta đã tuyển dụng được trên dưới 200 cán bộ trẻ theo nguồn này, trong đó có 139 cán bộ trẻ được xếp vào ngạch nghiên cứu viên và giảng viên với định hướng là sẽ đào tạo họ thành cán bộ khoa học cho các đơn vị trong Học viện. Học viện cũng đã tiến hành một số biện pháp để đào tạo, bồi dưỡng đội  ngũ cán bộ khoa học trẻ như: tổ chức các lớp đào tạo chuyên môn, ngoại ngữ, tin học; lựa chọn, cử những cán bộ tỏ ra có triển vọng đi đào tạo cao học, nghiên cứu sinh trong và ngoài nước; xây dựng tiêu chuẩn để cán bộ khoa học trẻ phấn đấu, trưởng thành; giao cho các cán bộ khoa học có kinh nghiệm nhiệm vụ kèm cặp cán bộ khoa học trẻ vv…Đồng thời với các biện pháp tổ chức đó, Đảng uỷ, các tổ chức đoàn thể trong Học viện cũng thường xuyên quan tâm giáo dục, bồi dưỡng lý tưởng, đạo đức, tác phong cho đội ngũ cán bộ này. Nhờ đó, đội ngũ cán bộ khoa học trẻ của Học viện đã có bước trưởng thành nhất định về trình độ lý luận chính trị, trình độ chuyên môn, ngoại ngữ, tin học và đã bước đầu nhập cuộc vào việc thực hiện nhiệm vụ chính trị của Học viện. Cụ thể là: Về trình độ học vấn, đội ngũ cán bộ khoa học trẻ có 3 tiến sĩ, 54 thạc sĩ và có 40 em đang theo học cao học, nghiên cứu sinh trong nước và ở nước ngoài. Hầu hết cán bộ khoa học trẻ (trừ những em mới tuyển dụng) đều đã được đào tạo theo chương trình Cao cấp lý luận chính trị hoặc cử nhân chính trị. Cán bộ khoa học trẻ của Học viện có trình độ ngoại ngữ, tin học khá thành thạo trong giao tiếp, một số người có thể sử dụng được ngoại ngữ trong nghiên cứu khoa học. Nhìn chung, đội ngũ cán bộ khoa học trẻ đã có sự nỗ lực cao trong học tập nâng cao trình độ và rèn luyên lập trường, tư tưởng, đạo đức cách mạng, một số cán bộ trẻ đã thể hiện được năng lực trong công tác nghiên cứu khoa học, tỏ ra có triển vọng trở thành người cán bộ khoa học thực thụ.

Tuy nhiên, so với yêu cầu thì đội ngũ cán bộ khoa học trẻ của Học viện phát triển còn chậm. Sau một thời gian khá dài (10 - 15 năm), đến nay, số cán bộ khoa học trẻ có trình độ sau đại học chỉ chiếm 41%, còn 82 cán bộ khoa học trẻ vẫn chỉ có trình độ cử nhân. Quan trọng hơn, cho đến nay, số lượng cán bộ khoa học trẻ có thể đảm nhiệm được công tác giảng dạy rất ít ỏi. Một số cán bộ trẻ được bố trí báo cáo chuyên đề chủ yếu là do đơn vị tạo kiện để họ được hưởng phụ cấp đứng bục.  Đặc biệt đáng lo lắng là trong số cán bộ trẻ đã xuất hiện tình trạng thờ ơ, bàng quan với các hoạt động của Học viện hoặc nhụt chí, giảm sút tinh thần tiến thủ. Trong khi đó, yêu cầu đặt ra là phải xây dựng được một đội ngũ cán bộ khoa học đủ về số lượng, có năng lực trí tuệ, trình độ cao về chuyên môn, nghiệp vụ; bản lĩnh chính trị vững vàng và phẩm chất đạo đức tốt, đủ sức đảm đương được nhiệm vụ chính trị của Học viện trong giai đoạn mới. Bởi vậy, chúng ta phải có những giải pháp mạnh và đồng bộ trong tất cả các khâu từ quy hoạch, tuyển dụng, đào tạo, bồi dưỡng đến bố trí, sử dụng và thực hiện chính sách đối với cán bộ khoa học trẻ. Sau đây, chúng tôi xin nêu lên một số vấn đề có tính chất phác thảo để chúng ta cùng trao đổi, thảo luận đi đến thống nhất chung.

 

1. Về vấn đề tạo nguồn cán bộ khoa học bổ sung.

Để đảm bảo mục tiêu đề ra về lực lượng cán bộ khoa học kế cận, không thể không tiến hành tuyển chọn bổ sung. Nhưng trước thực trạng đội ngũ cán bộ khoa học trẻ của Học viện phát triển chậm, đã có ý kiến cho rằng, không nên tuyển dụng sinh viên để đào tạo trở thành cán bộ khoa học vì thời gian đào tạo quá lâu, lại không bảo đảm chắc chắn có thể đào tạo được những cán bộ khoa học thực thụ. Theo họ, cách tốt nhất là tuyển chọn những cán bộ đã có học hàm, học vị hoặc những cán bộ lãnh đạo quản lý về công tác tại Học viện. Theo chúng tôi, nếu làm như vậy sẽ đáp ứng được ngay nhu cầu cán bộ của Học viện, nhưng việc tuyển chọn cũng không phải dễ dàng. Hơn nữa, không thể vì công tác đào tạo cán bộ khoa học kế cận khó khăn mà chúng ta không chuẩn bị cho tương lai phát triển của Học viện. Vì vậy, phải chăng, kết hợp tuyển chọn cán bộ khoa học làm việc được ngay với tuyển chọn để đào tạo lâu dài là giải pháp tối ưu? Về nguồn tuyển chọn nên chăng cũng cần đa dạng, trong đó tập trung vào những nguồn chủ yếu sau:

- Giảng viên của các trường chính trị tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương, của các trường đại học, cao đẳng có thành tích trong giảng dạy và nghiên cứu khoa học.

 - Các đồng chí có trình độ thạc sỹ và tiến sỹ đã bảo vệ luận văn, luận án ở các trường đại học trong và ngoài nước có chuyên ngành phù hợp.

- Các đồng chí cán bộ lãnh đạo, quản lý ở các Bộ, Ban, Ngành, Đoàn thể ở Trung ương và địa phương về học tập tại Học viện, sau khi tốt nghiệp cử nhân chính trị hay cao cấp lý luận chính trị với kết quả học tập tốt, có khả năng nghiên cứu và giảng dạy.

 - Cử nhân mới ra trường có chuyên ngành phù hợp và hội đủ các điều kiện cần thiết (học lực loại khá, giỏi, có đạo đức tốt, là đảng viên hoặc có thể trở thành đảng viên).

Đối với nguồn tuyển chọn để đào tạo lâu dài, hiện cũng có những ý kiến khác nhau. Có ý kiến cho rằng, tuyển rải rác với số lượng ít, chỉ cần đủ để thay thế biên chế của cán bộ nghỉ hưu. Cũng có ý kiến cho rằng, chỉ tuyển theo từng đợt với số lượng lớn để có điều kiện tập trung đào tạo. Đúng là để có điều kiện tập trung đào tạo theo quy trình thì tuyển chọn theo từng đợt là thích hợp. Cùng vì vậy mà hiện nay Học viện đang chuẩn bị cho việc tuyển dụng và đào tạo lớp cán bộ trẻ mới (với số lượng 60 em) để xây dựng lực lượng kế cận. Nhưng nên chăng, bên cạnh việc tuyển theo đợt tập trung chúng ta cũng cần luôn luôn mở rộng cửa với những tài năng trẻ thực sự muốn về công tác tại Học viện? Bên cạnh đó, quy trình tuyển chọn cũng là vấn đề cần phải có sự nghiên cứu, trao đổi để đảm bảo chọn lựa được những người thật sự có năng lực và triển vọng trở thành người cán bộ khoa học lý luận chính trị.  

2. Vấn đề xây dựng quy hoạch đội ngũ cán bộ khoa học kế cận của Học viện.

Đây là một nội dung rất quan trọng, nhằm xây dựng, phát triển nguồn nhân lực khoa học chất lượng cao của Học viện. Hiện nay, vẫn có người cho rằng, việc xây dựng quy hoạch cán bộ khoa học là công việc của Vụ Tổ chức - Cán bộ còn các đơn vị chỉ thực hiện theo. Rõ ràng là, việc làm rõ trách nhiệm cụ thể của cơ quan tham mưu về công tác cán bộ, của các cấp uỷ Đảng cũng như của thủ trưởng và tập thể lãnh đạo đơn vị về công tác này là hết sức cần thiết. Nhưng đồng thời cũng cần khẳng định rằng, quy hoạch phải tiến hành từ cơ sở, từ đơn vị mới đảm bảo tính khoa học và sát hợp.

3. Vấn đề đào tạo, bồi dưỡng cán bộ khoa học kế cận:

Qua các lần hội nghị, hội thảo và các đề tài khoa học đã tiến hành, chúng ta đã thống nhất được một số vấn đề liên quan đến công tác đào tạo và bồi dưỡng, cán bộ khoa học và cán bộ khoa học kế cận. Chẳng hạn, về nội dung đào tạo, bồi dưỡng nhiều ý kiến đều thống nhất: cần rèn luyện cán bộ khoa học trẻ về lập trường cộng sản, đạo đức cách mạng, tác phong của người cán bộ lý luận, người giảng viên Trường Đảng……Đồng thời, cần tập trung trang bị cho cán bộ khoa học về lý luận chủ nghĩa Mác - lê nin, tư tưởng Hồ chí Minh, trong đó đặc biệt chú ý trang bị kiến thức về kinh điển mác xít; về kiến thức chuyên sâu của các chuyên ngành; về tri thức thực tiễn; về phương pháp nghiên cứu khoa học và phương pháp giảng dạy; về ngoại ngữ và tin học….Về quy trình đào tạo, có thể bao gồm các khâu cơ bản sau: tuyển dụng và tập trung đào tạo cử nhân chính trị hoặc Cao cấp lý luận chính trị theo chương trình đặc biệt; tập sự ở các đơn vị khoa học; đào tạo cao học, nghiên cứu sinh; đi thực tế. Tuy nhiên, việc tiến hành khâu nào trước lại là vấn đề cần phải tính toán, cân nhắc, nhằm đảm bảo công tác đào tạo cán bộ khoa học kế cận vừa tiết kiệm được thời gian, công sức vừa đạt chất lượng cao.

Về phương thức đào tạo, bồi dưỡng, phải căn cứ vào từng nội dung và thời gian trong quy trình đào tạo, nhưng nên chăng cũng cần phải hết sức đa dạng, linh hoạt, đảm bảo phát huy tối đa những điều kiện và nguồn lực hiện có của Học viện, đồng thời, phát huy được tính chủ động, sáng tạo của bản thân cán bộ trẻ trong qúa trình đào tạo, tạo điều kiện để họ biến quá trình đào tạo thành quá trình tự đào tạo, để họ tự hoàn thiện nhân cách của người cán bộ khoa học. Vì vậy, ngoài việc đào tạo theo các chương trình đào cử nhân, thạc sĩ, tiến sĩ còn phải thông qua nhiều phương thức khác nhau giúp họ làm quen và được thử thách trong môi trường khoa học và môi trường thực tiễn, như:

- Tổ chức các lớp bồi dưỡng kinh điển Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh và các lý thuyết đương đại chuyên sâu cho cán bộ nghiên cứu, giảng dạy có trình độ thạc sĩ, tiến sỹ ở Học viện.

- Đưa cán bộ khoa học trẻ đi xâm nhập thực tế và nghiên cứu, tổng kết thực tiễn. Phương thức đào tạo thông qua đi thực tế không những giúp họ tiếp cận với những vấn đề đang đặt ra từ thực tiễn, rèn luyện phương pháp tổng kết thực tiễn mà còn rèn luyện bản lĩnh chính trị, lập trường tư tưởng, đạo đức tác phong của người cán bộ khoa học trường Đảng.

- Đào tạo cán bộ khoa học trẻ thông qua các đề tài, chương trình, dự án khoa học trọng điểm, kể cả các chương trình hợp tác quốc tế. Chọn nhân lực cho các đề tài dự án đó, dưới sự lãnh đạo khoa học trực tiếp của các giáo sư có kinh nghiệm. Thí điểm các đề tài loại đó, mà mỗi đề tài có 1 GS làm chủ nhiệm, từ 5 đến 10 tiến sĩ, với đầu tư kinh phí thỏa đáng, ra được các công trình có giá trị khoa học cao. Mặt khác, khuyến khích các cán bộ khoa học trẻ tham gia luận chứng, làm chủ nhiệm các đề tài khoa học bằng cách giao một số đề tài, trước hết là đề tài cấp cơ sở để cán bộ trẻ đấu thầu với nhau. Sau khi trúng thầu, sẽ cử những chuyên gia giỏi phù hợp chuyên ngành làm cố vấn. Lực lượng cộng tác viên của những đề tài này bắt buộc phải là những cán bộ trẻ.

- Đầu tư các nguồn lực và điều kiện, chọn ra từ 10 đến 20 nhà khoa học có uy tín nhất, giao cho họ bồi dưỡng từ 20 đến 40 tiến sĩ trẻ (mỗi GS, nhà khoa học có uy tín lớn nhận đỡ đầu 3,4 người) thì trong khoảng 5 đến 10 năm tới, Học viện sẽ có một lực lượng khoa học nòng cốt làm cơ sở phát triển tiềm lực khoa học lâu dài.

Chỉ có mạnh dạn và quyết tâm đầu tư theo chiều sâu như vậy mới có thể đào tạo được những cán bộ khoa học giỏi và các chuyên gia.

4. Vấn đề quản lý cán bộ khoa học trẻ

Đã có những ý kiến cảnh báo rằng, nếu tiếp tục buông lỏng quản lý đối với cán bộ trẻ, thì không những không xây dựng được một đội ngũ cán bộ khoa học cho tương lai mà còn tạo nên những “kiêu binh”, những kẻ học đòi theo thói “trí thức rởm”. Ý kiến đó không phải không có cơ sở khi trong đội ngũ cán bộ trẻ đã xuất hiện những người có biểu hiện chạy theo lối sống thực dụng, chỉ biết kêu ca, phàn nàn hoặc giảm sút tinh thần tiến thủ, không chịu khắc phục khó khăn, nỗ lực vươn lên. Vì vậy, việc tăng cường công tác quản lý đối với những cán bộ trẻ là một yêu cầu cấp bách hiện nay.

Tăng cường công tác quản lý tốt đối với cán bộ khoa học trẻ là nhằm giúp họ có định hướng đúng trên bước đường học tập, rèn luyên trở thành người cán bộ khoa học lý luận thực thụ. Để quản lý tốt đối với cán bộ trẻ thì trước hết phải giao nhiệm vụ cho họ một cách rõ ràng, định thời gian hoàn thành. Ví dụ: khi được tuyển dụng, cán bộ trẻ phải cam kết hoàn thành chương trình học tập Cử nhân chính trị theo chương trình đặc biệt. Sau đó, lại giao nhiệm vụ cho họ trong vòng từ 2 - 3 năm phải thi đỗ và hoàn thành chương trình thạc sĩ v.v... Đồng thời, cần thường xuyên kiểm tra thái độ và kết quả học tập, rèn luyện, phấn đấu. Những cán bộ khoa học trẻ có tinh thần hăng say học tập, tích cực rèn luyện phấn đấu, đạt thành tích cao trong học tập, nghiên cứu khoa học cần phải được biểu dương, khen thưởng kịp thời. Mặt khăc, cần hoàn thiện Quy chế làm việc của cán bộ nói chung, Quy chế giảng viên, nghiên cứu viên nói riêng để quản lý đội ngũ, đảm bảo vừa bảo vệ được cán bộ, vừa phát huy tối đa năng lực của từng người. Thường xuyên kiểm tra việc thực hiện Quy chế, kịp thời phát hiện những sai lệch để có biện pháp điều chỉnh, xử lý nghiêm những cán bộ vi phạm Quy chế. Việc qnản lý chủ yếu căn cứ vào kết quả và chất lượng công việc.

5. Vấn đề thực hiện chính sách đối với cán bộ khoa học kế cận:

 Đổi mới và hoàn thiện hơn nữa chế độ đãi ngộ đối với cán bộ nói chung, cán bộ khoa học nói riêng là nhân tố rất quan trọng. Họ phải được nhìn nhận, đánh giá đúng với vai trò, vị thế của họ, trên cơ sở đó mà có chế độ đãi ngộ thoả đáng, tạo động lực cho cán bộ yên tâm công tác. Tuy nhiên, cần kiến quyết chống lại tư tưởng ỷ lại, trông chờ theo cơ chế bao cấp cũ. Vì vây, việc thực hiện chính sách cần gắn liền với kết quả học tập, phấn đấu của cán bộ khoa học trẻ, tuyệt đối tránh tình trạng dàn đều. Những người có quá trình phấn đấu tốt sẽ được đãi ngộ xứng đáng, được tạo điều kiện để phát triển, như: cử đi đào tạo ở nước ngoài; tăng lương sớm, vv… Còn những người không có tinh thần vươn lên, kết quả học tập kém, vi phạm kỷ luật thì phải có biện pháp xử lý như: kéo dài thời gian tập sự, kéo dài thời gian nâng lương, ….

Bên cạnh tiền lương, Học viện cũng cần có cơ chế  thưởng cho những cán bộ có thành tích xuất sắc trong giảng dạy và nghiên cứu khoa học. Cũng cần nhấn mạnh thêm đối với người trí thức thì bên cạnh những giá trị về vật chất, họ rất cần được tôn vinh về mặt tinh thần, danh dự, uy tín khoa học. Vì vậy, chúng ta cần chú ý đến yếu tố này để tạo ra cơ chế như động lực thúc đẩy hoạt động giản dạy và nghiên cứu.

             Trong khả năng có thể của Học viện, cần tạo điều kiện tốt nhất về nhà ở ổn định cho cán bộ giảng dạy và nghiên cứu khoa học, mục đích là tạo điều kiện thuận lợi cho đội ngũ cán bộ nói chung, cán bộ khoa học nói riêng yên tâm công tác. Đồng thời, tạo điều kiện vật chất thuận lợi cho việc tuyển chọn được những cán bộ giỏi về Học viện công tác.

            Hình thành cơ chế và vận dụng chính sách có sự ưu đãi đối với cán bộ khoa học đi thực tế dài hạn tại các địa phương địa phương

Trang bị thêm những phương tiện kỹ thuật hiện đại phục vụ cho nghiên cứu và giảng dạy như phòng làm việc, máy vi tính, kết nối mạng Internet... .

Hình thành Quỹ hỗ trợ tài năng nghiên cứu khoa học dành cho những người trẻ tuổi (dưới 35), phát hiện và bồi dưỡng những người thực sự có năng lực.

Như vậy, việc xây dựng đội ngũ cán bộ khoa học kế cận cho Học viện đòi hỏi phải thực hiện đồng bộ nhiều biện pháp khác nhau. Việc tổ chức thực hiện cũng không hề đơn giản, vì đây là vấn đề con người, liên quan đến lợi ích, nhân phẩm, danh dự của từng cán bộ, nên không thể tuỳ tiện thí nghiệm, thử nghiệm. Vì vậy, rất mong các nhà khoa học cùng thảo luận, trao đổi thẳng thắn để chúng ta có được các biện pháp mạnh và cấp thiết theo yêu cầu của Bộ Chính trị về công tác xây dựng đội ngũ cán bộ khoa học của  Học viện trong giai đoạn mới.

            Xin trân trọng cảm ơn tất cả các đồng chí!

Ngày đăng:  28/12/2006
Số lần xem:  3069

Các tin đã đưa
  • Bài phát biểu tại Lễ chào mừng ngày Nhà giáo Việt Nam 20/11/2004
  •  Quay lại

    Văn minh công sở      Các bài viết khác