|
HỌC VIỆN CHÍNH TRỊ QUỐC GIA
HỒ CHÍ MINH
Số: 03/HD-HVCTQG-TC
|
|
CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
Độc lập - Tự do - Hạnh phúc
Hà Nội, ngày 28 tháng 02 năm 2007 |
HƯỚNG DẪN
Về chế độ khoán kinh phí đề tài, dự án khoa học
sử dụng Ngân sách Nhà nước trong Học viện Chính trị quốc gia HCM
Căn cứ Thông tư liên tịch số 93/2006/TTLT/BTC-BKHCN ngày 04 tháng 10 năm 2006 của Bộ Tài chính - Bộ Khoa học và Công nghệ hướng dẫn chế độ khoán kinh phí của đề tài, dự án khoa học và công nghệ sử dụng ngân sách Nhà nước;
Căn cứ vào đặc điểm của các đơn vị trong hệ thống Học viện, Học viện Chính trị quốc gia Hồ Chí Minh hướng dẫn thực hiện như sau:
I. NHỮNG QUY ĐỊNH CHUNG
1. Đối tượng áp dụng: Các đơn vị và cá nhân trong hệ thống Học viện được giao trách nhiệm chủ trì, thực hiện và quản lý đề tài, dự án, chương trình, nhiệm vụ khoa học (gọi chung là các đề tài, dự án) sử dụng Ngân sách Nhà nước.
2. Phạm vi áp dụng: Các đề tài, dự án sử dụng Ngân sách Nhà nước của Học viện đã được cơ quan có thẩm quyền phê duyệt mục tiêu, nội dung, yêu cầu về sản phẩm nghiên cứu và dự toán kinh phí.
3. Khoán kinh phí thực hiện đề tài, dự án là giao quyền tự chủ cho chủ nhiệm đề tài, dự án, đơn vị chủ trì, đơn vị quản lý kinh phí (là đơn vị dự toán, được giao quản lý kinh phí gồm Văn phòng Học viện và các Học viện trực thuộc,...) trong việc sử dụng dự toán kinh phí của đề tài, dự án đã được cơ quan có thẩm quyền phê duyệt, gắn với trách nhiệm về các kết quả nghiên cứu nhằm đạt được mục tiêu, kết quả cao nhất.
4. Quy trình lập, phân bổ và giao dự toán chi ngân sách Nhà nước cho các đơn vị được giao quản lý kinh phí đề tài, dự án được thực hiện theo quy định hiện hành của Luật Ngân sách Nhà nước và các văn bản hướng dẫn của Học viện.
5. Việc quyết toán kinh phí của đề tài, dự án được thực hiện theo quy định hiện hành; đối với các đề tài, dự án thực hiện trong nhiều năm thì thực hiện quyết toán hàng năm theo niên độ ngân sách với số kinh phí thực nhận và thực chi, khi kết thúc thì tổng hợp luỹ kế quyết toán từ năm đầu thực hiện đến năm kết thúc.
II. NHỮNG QUY ĐỊNH CỤ THỂ
1. Các nội dung chi được giao khoán trong quá trình triển khai thực hiện đề tài, dự án bao gồm:
- Chi thù lao cho cán bộ thực hiện các nội dung nghiên cứu khoa học, cho chuyên gia nhận xét, phản biện, đánh giá và chi tiền công cho các đối tượng khác có tham gia trực tiếp thực hiện đề tài, dự án.
- Chi mua tài liệu, tư liệu, số liệu, sách, tạp chí tham khảo, dụng cụ, vật rẻ tiền mau hỏng,... phục vụ trực tiếp cho công tác nghiên cứu khoa học của đề tài, dự án.
- Chi công tác phí trong nước; chi đoàn vào; hội nghị, hội thảo khoa học của đề tài, dự án; văn phòng phẩm; in ấn; thông tin liên lạc; dịch tài liệu từ tiếng nước ngoài; biên soạn và in ấn sách chuyên khảo để phổ biến trong khuôn khổ của đề tài, dự án; phí đăng ký bảo hộ quyền sở hữu trí tuệ đối với kết quả nghiên cứu khoa học (nếu có).
- Một số khoản chi khác phục vụ trực tiếp cho hoạt động nghiên cứu khoa học của đề tài, dự án.
2. Các nội dung chi không giao khoán.
Bao gồm các nội dung chi sau, nếu phát sinh trong khuôn khổ phạm vi đề tài, dự án:
- Chi đoàn ra.
- Chi mua sắm mới tài sản cố định thiết yếu, chi sửa chữa cơ sở vật chất kỹ thuật phục vụ trực tiếp cho việc nghiên cứu khoa học của đề tài, dự án.
3. Lập và phê duyệt dự toán kinh phí đề tài, dự án.
a. Đối với đề tài, dự án cấp Nhà nước, cấp Bộ và tương đương:
- Căn cứ vào mục tiêu và các nội dung nghiên cứu của đề tài, dự án đã được duyệt; căn cứ các định mức kinh tế kỹ thuật, chế độ chi tiêu hiện hành của Nhà nước, chủ nhiệm đề tài, dự án lập dự toán chi tiết theo các nội dung chi, có xác nhận của đơn vị chủ trì, gửi về Vụ Quản lý khoa học để phối hợp với Vụ Kế hoạch - Tài chính thẩm định trình Ban Giám đốc Học viện phê duyệt (trường hợp những nội dung chi Nhà nước chưa có định mức thì thuyết minh rõ cơ sở xây dựng dự toán theo nội dung công việc). Khi lập dự toán yêu cầu:
+ Lập chi tiết theo các nội dung chi của đề tài chia làm 2 phần: phần được giao khoán và phần không được giao khoán theo các nhóm chi quy định tại điểm 1 và điểm 2 phần II nêu trên (chi tiết số lượng, kinh phí từng hội thảo, chuyên đề nghiên cứu; kinh phí, số lượng và địa điểm đi công tác khảo sát, đoàn vào,...)
+ Dự toán phải gắn với các nội dung và sản phẩm nghiên cứu cụ thể, có thuyết minh rõ cơ sở xây dựng dự toán theo các nội dung công việc và chi tiết tiến độ thực hiện.
- Căn cứ dự toán theo nội dung chi do các chủ nhiệm đề tài, dự án lập, Vụ Quản lý Khoa học có trách nhiệm chủ trì, phối hợp với Vụ Kế hoạch - Tài chính trong việc thẩm định nội dung chi và kinh phí của các đề tài, dự án đảm bảo phù hợp với mục tiêu, nội dung nghiên cứu và theo đúng chế độ, định mức quy định, trình Ban Giám đốc xem xét phê duyệt (những nội dung Nhà nước chưa có định mức thì thẩm định trên cơ sở thuyết minh căn cứ tính toán của đơn vị để trình phê duyệt), kết quả phê duyệt được thông báo cho chủ nhiệm đề tài, dự án và đơn vị chủ trì để thực hiện, trong đó:
+ Đối với các nội dung giao khoán: Thông báo tổng số dự toán duyệt, (đồng thời cũng nêu rõ những nội dung chi không phê duyệt do không phù hợp).
+ Đối với các nội dung không giao khoán (nếu có): Thông báo phê duyệt chi tiết, cụ thể từng nội dung theo quy định (đối với đoàn ra: số lượng, thời gian, nước đến, cấp trưởng đoàn; đối với mua sắm tài sản: số lượng, chủng loại, giá trị,...).
b. Đối với đề tài cấp cơ sở và tương đương:
Căn cứ vào mục tiêu và các nội dung nghiên cứu của đề tài, dự án, khung kinh phí tối đa theo quy định của Học viện, chủ nhiệm đề tài, dự án lập dự toán chi tiết theo các nội dung chi, báo cáo đơn vị chủ trì để trình cấp có thẩm quyền phê duyệt theo phân cấp. Do các đề tài cấp cơ sở Nhà nước chưa có quy về định mức chi, do vậy khi lập dự toán cần thuyết minh rõ cơ sở xây dựng dự toán theo nội dung công việc.
Trên cơ sở dự toán và thuyết minh của các chủ đề tài, dự án, các đơn vị được phân cấp sẽ phê duyệt tổng mức dự toán kinh phí khoán cho cả đề tài, dự án đảm bảo không vượt quá mức tối đa theo quy định của Học viện (đối với trung tâm Học viện: Lãnh đạo các Viện phối hợp với Văn phòng Học viện phê duyệt, đối với các Học viện trực thuộc: Giám đốc Học viện trực thuộc phê duyệt).
4. Sử dụng kinh phí đề tài, dự án
a. Các đề tài, dự án cấp Nhà nước, cấp Bộ và tương đương:
Dự toán kinh phí được phê duyệt và phân bổ cho từng đề tài, dự án là mức tối đa để thực hiện đề tài, dự án. Trong phạm vi tổng dự toán kinh phí của đề tài, dự án, chủ nhiệm đề tài, dự án được quyền tự chủ trong việc sử dụng dự toán kinh phí được duyệt để tổ chức thực hiện sau khi đã thống nhất với Thủ trưởng đơn vị chủ trì theo quy định như sau:
- Các nội dung chi được giao khoán:
+ Các nội dung chi trả về tiền công, thù lao cho các cán bộ khoa học thực hiện các nội dung nghiên cứu, chuyên gia nhận xét, phản biện, đánh giá; lao động khác tham gia trực tiếp thực hiện đề tài, dự án; chi hội thảo khoa học: Chủ nhiệm đề tài, dự án được quyền quyết định các mức chi cao hơn hoặc thấp hơn mức quy định của Nhà nước, tuỳ theo chất lượng và hiệu quả công việc đặt hàng nghiên cứu.
+ Các nội dung chi công tác phí trong nước: Chủ nhiệm đề tài, dự án được quyền quyết định mức thanh toán công tác phí cao hơn hoặc thấp hơn mức quy định hiện hành của Nhà nước về chế độ công tác phí.
+ Các nội dung chi về thông tin, liên lạc, sách báo, tư liệu, văn phòng phẩm, đoàn vào, các khoản chi hỗ trợ (nếu có) và các khoản chi khác phục vụ trực tiếp cho việc nghiên cứu của đề tài, dự án: Chủ nhiệm đề tài, dự án được chủ động thực hiện các khoản chi này trên cơ sở yêu cầu của đề tài, dự án theo hướng tiết kiệm, có hiệu quả và đúng với hoạt động nghiệp vụ thực tế phát sinh khi thực hiện đề tài, dự án.
Trong quá trình thực hiện, chủ nhiệm đề tài, dự án được quyền điều chỉnh dự toán kinh phí các nội dung chi theo yêu cầu thực tế nhưng phải đảm bảo điều kiện không làm thay đổi tổng mức khoán, mục tiêu, nội dung nghiên cứu chính của đề tài, dự án và phải được sự thống nhất của thủ trưởng đơn vị chủ trì (thủ trưởng đơn vị chủ trì là người quyết định cuối cùng và chịu trách nhiệm về quyết định đó, chủ nhiệm đề tài, dự án có trách nhiệm thực hiện). Các nội dung phát sinh hoặc không thực hiện theo dự toán được duyệt mà không có ý kiến của đơn vị chủ trì, sẽ không được thanh quyết toán và tính vào phần tiết kiệm của đề tài, dự án.
- Các nội dung không giao khoán:
+ Chủ nhiệm đề tài, dự án thực hiện quản lý và chi tiêu theo các quy định hiện hành của Nhà nước và trong phạm vi dự toán kinh phí được phê duyệt.
+ Trong trường hợp cần thiết, việc điều chỉnh dự toán kinh phí giữa các nội dung chi chỉ được thực hiện sau khi có ý kiến của cấp đã phê duyệt dự toán đề tài, dự án. Những nội dung không thực hiện hoặc thực hiện không đúng theo phê duyệt sẽ không được thanh quyết toán và tính vào phần tiết kiệm của đề tài, dự án.
b. Đối với đề tài, dự án cấp cơ sở và tương đương:
Trong phạm vi tổng dự toán kinh phí giao khoán được duyệt, các chủ nhiệm đề tài, dự án được quyền tự chủ trong việc sử dụng để triển khai thực hiện và có trách nhiệm báo cáo tình hình triển khai với đơn vị chủ trì.
5. Thay đổi dự toán kinh phí của đề tài, dự án.
- Trường hợp phải thay đổi mục tiêu, nội dung nghiên cứu chính của đề tài, dự án cho phù hợp với tình hình thực tế, hoặc theo yêu cầu của cơ quan có thẩm quyền theo phân cấp quản lý đề tài, dự án, từ đó làm thay đổi cơ bản dự toán kinh phí của đề tài, dự án thì chủ nhiệm đề tài, dự án lập lại dự toán điều chỉnh theo các mục tiêu, nội dung của đề tài, dự án cần phải thay đổi có xác nhận của thủ trưởng đơn vị chủ trì trình cấp đã phê duyệt lần đầu để xem xét, phê duyệt lại.
- Sau khi được phê duyệt, việc sử dụng kinh phí theo dự toán điều chỉnh của đề tài, dự án được thực hiện theo chế độ khoán kinh phí đê tài, dự án quy định tại hướng dẫn này.
6. Quyết toán kinh phí đề tài, dự án.
a. Nguyên tắc quyết toán.
- Kinh phí đề tài, dự án được phân bổ và giao thực hiện của năm nào được quyết toán theo niên độ ngân sách năm đó theo đúng quy định hiện hành. Đối với các đề tài, dự án thực hiện trong nhiều năm thì quyết toán hàng năm theo niên độ ngân sách đối với số kinh phí thực nhận và thực chi. Khi kết thúc đề tài, dự án thì tổng hợp luỹ kế quyết toán từ năm đầu thực hiện đến năm kết thúc.
- Kinh phí thực hiện đề tài, dự án chi thực tế cho nội dung nào thì hạch toán vào mục chi tương ứng của Mục lục Ngân sách Nhà nước theo quy định hiện hành.
- Quyết toán kinh phí của đề tài, dự án phải căn cứ kết quả của từng nội dung nghiên cứu khoa học đã được chủ nhiệm đề tài, dự án và thủ trưởng đơn vị chủ trì chấp nhận; đồng thời đề tài, dự án phải được Hội đồng nghiệm thu ở cấp đề tài, dự án đánh giá đạt yêu cầu trở lên.
- Đối với các đề tài, dự án thực hiện trong nhiều năm, kinh phí quyết toán hàng năm phải phù hợp với khối lượng công việc nghiên cứu khoa học đã thực hiện.
- Chủ nhiệm đề tài, dự án có trách nhiệm báo cáo quyết toán năm và tổng hợp luỹ kế quyết toán của đề tài dự án khi kết thúc với đơn vị chủ trì và đơn vị được giao quản lý kinh phí.
- Các đề tài, dự án đã kết thúc và được nghiệm thu trong năm )đến hết ngày 31/12), chủ nhiệm đề tài, dự án có trách nhiệm báo cáo chi tiết các khoản kinh phí đã tạm ứng và đã chi cho các công việc của đề tài, dự án đến hết 31/12 để đơn vị quản lý kinh phí quyết toán (trong thời gian chỉnh lý quyết toán) vào niên độ ngân sách năm đó theo quy định hiện hành của Luật Ngân sách Nhà nước.
- Số dư (dự toán, tạm ứng) của các đề tài, dự toán đang trong thời gian thực hiện theo kế hoạch đã được phê duyệt theo phân cấp, được chuyển sang năm sau thực hiện tiếp.
b. Chứng từ thanh, quyết toán kinh phí thực hiện đề tài, dự án.
* Đối với đề tài cấp Nhà nước, cấp Bộ và tương đương:
- Chứng từ thanh, quyết toán đối với các khoản chi trả tiền công, thù lao về chi hội thảo khoa học là bảng kê danh sách, số tiền chi cho từng người, có chữ ký của người nhận tiền, được chủ nhiệm đề tài, dự án và thủ trưởng đơn vị chủ trì ký xác nhận.
- Chứng từ thanh, quyết toán đối với các khoản chi trả tiền công, thù lao về chi phản biện, nhận xét, đánh giá của chuyên gia là bản kê danh sách các chuyên gia đã có ý kiến phản biện, nhận xét, đánh giá, số tiền chi cho từng chuyên gia, có chữ ký của người nhận, được chủ nhiệm đề tài, dự án và thủ trưởng đơn vị chủ trì ký xác nhận.
- Chứng từ thanh, quyết toán đối với các hợp đồng đặt hàng nghiên cứu khoa học:
+ Đối với cá nhân thì chứng từ thanh, quyết toán bao gồm: Hợp đồng, thanh lý hợp đồng, bản kê các kết quả nghiên cứu khoa học và phát triển công nghệ đạt yêu cầu nghiệm thu, thanh toán, có chữ ký nhận tiền của người thực hiện được chủ nhiệm đề tài, dự án và thủ trưởng đơn vị chủ trì ký xác nhận.
+ Đối với tổ chức (pháp nhân) thì chứng từ thanh, quyết toán bao gồm: hợp đồng, thanh lý hợp đồng, bản kê các kết quả nghiên cứu khoa học được thủ trưởng đơn vị chủ trì, chủ nhiệm đề tài, dự án ký xác nhận đạt yêu cầu nghiệm thu, thanh toán; giấy chuyển khoản hoặc phiếu thu tiền của bên nhận hợp đồng, nếu đại diện cá nhân của tổ chức pháp nhân nhận phải có giấy giới thiệu và giấy biên nhận tiền.
- Đối với các khoản chi mua sắm tài sản cố định, vật tư, nguyên nhiên vật liệu, công tác phí trong và ngoài nước và các khoản chi khác thì chứng từ thanh, quyết toán được thực hiện theo quy định hiện hành.
- Chứng từ quyết toán với toàn bộ đề tài, dự án là kết quả nghiên cứu đề tài, dự án đã được nghiệm thu từ mức đạt trở lên kèm theo hợp đồng, thanh lý hợp đồng nghiên cứu khoa học do cơ quan trực tiếp giao đề tài xác nhận.
* Đối với đề tài, dự án cấp cơ sở và tương đương:
Chứng từ thanh, quyết toán là kết quả nghiên cứu đề tài, dự án đã được nghiệm thu từ mức đạt trở lên, hợp đồng, thanh lý hợp đồng nghiên cứu khoa học do cơ quan trực tiếp giao đề tài xác nhận với chủ đề tài, dự án, kèm theo các chứng từ liên quan đến việc thực hiện chi tiêu nếu có.
7. Kinh phí tiết kiệm của đề tài, dự án (áp dụng đối với các đề tài, dự án cấp Nhà nước, cấp Bộ và tương đương)
Kinh phí tiết kiệm là kinh phí chênh lệch giữa tổng dự toán kinh phí của đề tài, dự án được duyệt so với tổng quyết toán kinh phí chi tiêu thực tế của đề tài, dự án sau khi đề tài, dự án đã hoàn thành khối lượng công việc được giao, được đánh giá nghiệm thu ở cấp quản lý đề tài, dự án từ mức “Đạt” trở lên (bao gồm cả những nội dung chi không được xem xét quyết toán đã nêu tại mục 4 phần II Hướng dẫn này).
a. Nguyên tắc sử dụng kinh phí tiết kiệm.
* Đối với kinh phí tiết kiệm từ những nội dung chi được giao khoán:
- Khen thưởng tập thể, cá nhân tham gia thực hiện đề tài, dự án có nhiều thành tích đóng góp cho thành công của đề tài, dự án và tổng mức tiền thưởng không vượt quá 100 triệu đồng, cụ thể như sau:
+ 70% số kinh phí tiết kiệm được nếu đề tài, dự án được đánh giá nghiệm thu ở cấp quản lý đạt “mức A”.
+ 60% số kinh phí tiết kiệm được nếu đề tài, dự án được đánh giá nghiệm thu ở cấp quản lý đạt “mức B”.
+ 40% số kinh phí tiết kiệm được nếu đề tài, dự án được đánh giá nghiệm thu ở cấp quản lý đạt “mức C”.
- Các mức nghiệm thu A, B, C nêu trên được căn cứ và vận dụng theo Quyết định số 13/QĐ-BKHCN ngày 25/5/2004 của Bộ trưởng Bộ Khoa học và Công nghệ về việc ban hành “Quy chế đánh giá nghiệm thu đề tài KH&CN cấp Nhà nước”.
- Mức thưởng cụ thể cho cá nhân tham gia thực hiện đề tài, dự án do chủ nhiệm đề tài, dự án quyết định sau khi thống nhất với Thủ trưởng đơn vị chủ trì.
- Phần kinh phí tiết kiệm còn lại được để lại cho đơn vị chủ trì.
* Đối với kinh phí tiết kiệm từ những nội dung chi không được giao khoán:
Được trích vào quỹ phát triển sự nghiệp của các đơn vị được giao quản lý kinh phí đề tài, dự án, trường hợp đơn vị không có quỹ phát triển sự nghiệp thì nộp Ngân sách Nhà nước theo phân cấp ngân sách hiện hành.
b. Thanh quyết toán kinh phí tiết kiệm: Chứng từ quyết toán là báo cáo chênh lệch (nếu có) giữa tổng dự toán kinh phí của đề tài, dự án được duyệt so với tổng kinh phí thực tế chi tiêu của đề tài, dự án.
8. Sử dụng sản phẩm của đề tài, dự án.
Sản phẩm của đề tài, dự án là tài sản trí tuệ, việc sử dụng sản phẩm được thực hiện theo quy định của pháp luật về Sở hữu trí tuệ, các quy định pháp luật khác có liên quan và các văn bản hiện hành của Học viện Chính trị quốc gia Hồ Chí Minh (Quy chế quản lý khoa học và Quy chế xuất bản của Học viện).
9. Xử lý tài sản mua sắm bằng nguồn kinh phí Ngân sách Nhà nước của đề tài, dự án.
Tài sản được mua sắm bằng nguồn kinh phí NSNN của các đề tài, dự án là tài sản Nhà nước. Sau khi đề tài, dự án hoàn thành, nghiệm thu và quyết toán kinh phí, tài sản này được xử lý theo các quy định hiện hành về quản lý tài sản của Nhà nước, cụ thể như sau:
- Trường hợp các đơn vị chủ trì có nhu cầu sử dụng thì báo cáo Giám đốc Học viện thông qua đơn vị được giao quản lý kinh phí đề tài, dự án để xem xét cho sử dụng và quyết định ghi tăng tài sản cho đơn vị được giao quản lý kinh phí đề tài, dự án.
- Điều chuyển cho các đơn vị trong hệ thống Học viện còn thiếu tài sản có nhu cầu sử dụng hoặc còn thiếu so với tiêu chuẩn, định mức sử dụng tài sản do Nhà nước quy định.
- Tổ chức bán đấu giá để thu tiền nộp ngân sách Nhà nước đối với các tài sản vẫn còn sử dụng được.
- Thanh lý tài sản đối với các tài sản không còn sử dụng được.
Việc tổ chức bán đấu giá, thanh lý tài sản được thực hiện theo quy định hiện hành của Nhà nước.
10. Quy định về công khai thực hiện đề tài, dự án.
Các đơn vị chủ trì và đơn vị được giao quản lý kinh phí đề tài, dự án có trách nhiệm thực hiện việc công khai tài chính và công khai nội dung đề tài, dự án (trừ các đề tài, dự án có nội dung cần được bảo mật, do cơ quan có thẩm quyền quy định), cụ thể như sau:
a. Các đơn vị chủ trì:
- Các đơn vị phải thực hiện công khai các đề tài, dự án do đơn vị mình chủ trì theo các nội dung sau:
+ Tên đề tài, dự án được giao.
+ Tên chủ nhiệm đề tài, dự án và các thành viên chính tham gia thực hiện đề tài, dự án.
+ Mục tiêu của đề tài, dự án.
+ Các nội dung nghiên cứu khoa học chính phải thực hiện.
+ Thời gian thực hiện đề tài, dự án.
+ Các kết quả chính phải đạt được sau khi đề tài, dự án kết thúc.
+ Tổng số kinh phí thực hiện đề tài, dự án, trong đó tổng kinh phí từ nguồn ngân sách Nhà nước (đối với đề tài, dự án cấp Nhà nước, cấp Bộ ghi chi tiết kinh phí khoán và kinh phí các nội dung không khoán).
+ Các kết quả thực hiện đề tài, dự án đã được nghiệm thu, đánh giá và công nhận.
- Phương thức công khai:
+ Niêm yết tại nơi dễ nhận biết tại đơn vị chủ trì.
+ Công khai tại các cuộc họp thường niên của các đơn vị chủ trì.
+ Đưa nên trang Website (các đơn vị chủ trì tại Trung tâm Học viện có trách nhiện đưa nên trang Website của Học viện, các đơn vị chủ trì thuộc các Học viện trực thuộc có trách nhiện đưa nên trang Website của Học viện mình nếu có).
+ Đăng trên tạp chí và Báo chuyên ngành trong 3 số liên tiếp.
- Thời gian công khai: Chậm nhất là 30 ngày sau khi đề tài, dự án được phê duyệt, trong đó đối với việc niêm yết tại đơn vị phải được duy trì trong suốt thời gian thực hiện. Riêng các kết quả thực hiện đề tài, dự án phải thực hiện công khai ngay sau khi được cấp có thẩm quyền nghiệm thu, đánh giá và công nhận, các kết quả này khi thực hiện niêm yết tại đơn vị phải được duy trì trong thời hạn 90 ngày.
- Trường hợp tổ chức, cá nhân ngoài phạm vi các đơn vị chủ trì muốn tìm hiểu chi hơn thì đơn vị chủ trì đề tài, dự án có trách nhiệm cung cấp những nội dung của đề tài, dự án đã được công khai cho tổ chức, cá nhân đó.
b. Các đơn vị được giao quản lý kinh phí đề tài, dự án:
- Các đơn vị (Văn phòng Học viện, các Học viện trực thuộc...) có trách nhiệm thực hiện công khai các đề tài, dự án thuộc kinh phí của đơn vị mình gồm các nội dung sau:
+ Tên đề tài, dự án.
+ Tên chủ nhiệm đề tài, dự án.
+ Thời gian thực hiện đề tài, dự án.
+ Tổng số kinh phí thực hiện đề tài, dự án, trong đó tổng kinh phí từ nguồn ngân sách Nhà nước.
+ Kết quả thực hiện đề tài, dự án được nghiệm thu, đánh giá và công nhận.
+ Quyết toán kinh phí đã chi để thực hiện đề tài, dự án và chi tiết theo các nội dung chi chủ yếu.
+ Tổng kinh phí tiết kiệm của đề tài, dự án.
- Phương thức công khai.
+ Niêm yết tại nơi dễ nhận biết.
+ Công khai tại các cuộc họp thường niên của các đơn vị.
- Thời gian công khai: Chậm nhất là 30 ngày sau khi đề tài, dự án được phê duyệt và việc công khai phải được duy trì trong suốt thời gian thực hiện. Riêng quyết toán kinh phí sau khi được duyệt, các kết quả thực hiện đề tài, dự án được cấp có thẩm quyền đánh giá, nghiệm thu và công nhận phải thực hiện công khai ngay sau khi được phê duyệt và duy trì trong thời hạn 90 ngày.
- Trường hợp tổ chức, cá nhân ngoài phạm vi các đơn vị được giao quản lý kinh phí đề tài, dự án muốn tìm hiểu chi hơn về tình hình kinh phí của đề tài, dự án thì đơn vị được giao quản lý kinh phí đề tài, dự án có trách nhiệm cung cấp những nội dung liên quan đã công khai cho tổ chức, cá nhân đó.
11. Chế tài xử lý các đề tài, dự án không hoàn thành.
- Đề tài, dự án không hoàn thành là đề tài, dự án thuộc một trong các loại sau:
+ Bị đình chỉ do sai phạm trong quá trình thực hiện theo quyết định của cơ quan quản lý có thẩm quyền phê duyệt đề tài, dự án theo phân cấp.
+ Không hoàn thành nhiệm vụ trong thời hạn quy định và bị cơ quan phê duyệt đề tài, dự án theo phân cấp có quyết định đình chỉ thực hiện, không cho gia hạn tiếp.
+ Có kết quả được đánh giá, nghiệm thu ở mức “Không đạt” tại Hội đồng nghiệm thu ở cấp quản lý đề tài, dự án và không được cơ quan quản lý có thẩm quyền phê duyệt đề tài, dự án theo phân cấp cho phép gia hạn thời gian thực hiện để hoàn chỉnh kết quả.
- Trong thời hạn 15 ngày làm việc kể từ ngày nhận được văn bản xác định đề tài không hoàn thành của cơ quan quản lý có thẩm quyền phê duyệt đề tài, dự án theo phân cấp, chủ nhiệm đề tài, dự án và tổ chức chủ trì lập báo cáo chi tiết toàn bộ quá trình thực hiện (nội dung hoạt động và sử dụng kinh phí) của đề tài, dự án; xác định rõ nguyên nhân (chủ quan, khách quan) gửi cơ quan trực tiếp giao đề tài, dự án.
- Trong thời hạn 30 ngày làm việc kể từ khi nhận được báo cáo của tổ chức chủ trì và chủ nhiệm đề tài, dự án, cơ quan quản lý có thẩm quyền phê duyệt đề tài, dự án theo phân cấp có trách nhiệm kiểm tra, xác định nguyên nhân dẫn đến việc đề tài, dự án không hoàn thành.
- Căn cứ các nguyên nhân chủ quan hoặc khách quan dẫn đến việc các đề tài, dự án không hoàn thành, cơ quan quản lý có thẩm quyền phê duyệt đề tài, dự án theo phân cấp ra quyết định xử lý cụ thể như sau:
+ Nộp hoàn trả ngân sách Nhà nước toàn bộ kinh phí đã được cấp nhưng chưa sử dụng.
+ Đối với phần kinh phí của ngân sách Nhà nước đã được sử dụng (có đầy đủ các chứng từ thanh quyết toán theo quy định tại điểm b mục 6 Hướng dẫn này), được xử lý như sau:
Trường hợp do nguyên nhân chủ quan, phải xác định rõ trách nhiệm của từng cá nhân để thu hồi tối đa kinh phí cho ngân sách Nhà nước. Tổng mức thu hồi tối thiểu không thấp hơn 30% kinh phí ngân sách Nhà nước đã sử dụng cho đề tài, dự án.
Trường hợp do nguyên nhân khách quan: tổng mức thu hồi tối đa không quá 10% kinh phí ngân sách Nhà nước cấp đã sử dụng cho đề tài, dự án.
Mức thu hồi cụ thể do Thủ trưởng cơ quan quản lý có thẩm quyền phê duyệt đề tài, dự án theo phân cấp xem xét quyết định.
- Trong thời hạn 60 ngày kể từ ngày có quyết định của cơ quan quản lý có thẩm quyền về việc nộp hoàn trả kinh phí cho ngân sách Nhà nước, đơn vị chủ trì và chủ nhiệm đề tài, dự án có trách nhiệm nộp hoàn trả kinh phí cho ngân sách Nhà nước qua đơn vị được giao quản lý kinh phí đề tài, dự án theo phân cấp quản lý ngân sách Nhà nước hiện hành.
- Trong trường hợp không đủ nộp hoàn trả ngân sách Nhà nước trong năm thì được chuyển phần còn thiếu sang năm sau để tiếp tục hoàn trả ngân sách Nhà nước.
- Các đơn vị được giao quản lý kinh phí đề tài, dự án có trách nhiệm tổng hợp tình hình thực hiện việc thu hồi kinh phí hoàn trả ngân sách Nhà nước vào báo cáo quyết toán hàng năm của đơn vị mình, gửi về Học viện để tổng hợp, báo cáo các cơ quan chức năng theo quy định.
- Chủ đề tài, dự án và đơn vị chủ trì ngoài trách nhiệm phải hoàn trả kinh phí còn phải chịu các chế tài xử lý khác theo các quy định hiện hành của Học viện và của các Học viện trực thuộc về công tác quản lý khoa học.
12. Trách nhiệm của các đơn vị và chủ nhiệm đề tài, dự án trong việc xây dựng và tổ chức thực hiện dự toán đề tài, dự án.
1. Chủ nhiệm đề tài, dự án:
- Có trách nhiệm lập dự toán kinh phí đề tài, dự án theo quy định. Sau khi đề tài, dự án được cấp có thẩm quyền phê duyệt, chủ nhiệm đề tài, dự án gửi kế hoạch chi tiết kinh phí theo tiến độ thực hiện về phòng Tài vụ của các đơn vị dự toán trực thuộc nơi được giao quản lý kinh phí đề tài, dự án để tập hợp vào dự toán chi hàng quý gửi Vụ Kế hoạch Tài chính làm căn cứ trong quá trình phê duyệt dự toán và cấp phát kinh phí (Các nội dung khoán lập vào nhóm mục "Chi khác", các nội dung không khoán lập vào các nhóm mục tương ứng theo quy định của mục lục Ngân sách Nhà nước).
- Chịu trách nhiệm thực hiện theo đúng tiến độ, đảm bảo chất lượng. Định kỳ báo cáo đơn vị chủ trì và đơn vị quản lý kinh phí đề tài, dự án.
- Báo cáo thuyết minh rõ số liệu chi tiết quyết toán kinh phí thực hiện đề tài, dự án với đơn vị chủ trì và đơn vị được giao quản lý kinh phí đề tài, dự án.
2. Đơn vị được giao chủ trì thực hiện đề tài, dự án:
- Có trách nhiệm theo dõi, đôn đốc việc thực hiện đề tài, dự án theo đúng tiến độ, nội dung nghiên cứu
- Phê duyệt điều chỉnh nội dung, dự toán kinh phí trong trường hợp cần thiết cho phù hợp tình hình thực tế, đảm bảo hiệu quả công tác nghiên cứu.
- Thực hiện công khai đề tài, dự án theo quy định.
- Có trách nhiệm cung cấp thông tin liên quan đến các nội dung công khai của mình khi được yêu cầu.
3. Các đơn vị dự toán được giao trách nhiệm quản lý kinh phí đề tài, dự án:
- Có trách nhiệm hướng dẫn lập kế hoạch kinh phí, thủ tục tạm ứng, thanh toán kinh phí thực hiện đề tài, dự án;
- Tổ chức quản lý, theo dõi, hạch toán, lập báo cáo quyết toán; chịu trách nhiệm về số liệu thanh, quyết toán của đề tài, dự án
- Thực hiện công khai đề tài, dự án theo quy định.
- Có trách nhiệm đôn đốc và có các giải pháp cần thiết để thu hồi nộp hoàn trả ngân sách Nhà nước đối với những đề tài, dự án không hoàn thành.
- Có trách nhiệm cung cấp thông tin liên quan đến các nội dung công khai của mình khi được yêu cầu.
5. Vụ Kế hoạch - Tài chính và Vụ Quản lý khoa học: Là hai đơn vị đầu mối quản lý kinh phí, nội dung, kế hoạch các đề tài, dự án của toàn hệ thống Học viện, có trách nhiệm phối hợp, thẩm định trình Giám đốc Học viện phê duyệt các đề tài, dự án cấp Bộ, cấp Nhà nước; Kiểm tra việc triển khai thực hiện và công khai các đề tài, dự án của các đơn vị.
III. TỔ CHỨC THỰC HIỆN.
1. Hướng dẫn này thực hiện từ ngày 01/01/2007 và áp dụng chung cho các đề tài, dự án có sử dụng nguồn vốn ngân sách Nhà nước được giao từ năm 2007 tại các đơn vị dự toán trong toàn hệ thống Học viện.
2. Đối với các đề tài, dự án đã được phê duyệt và đang thực hiện từ năm 2006 trở về trước thì tiếp tục thực hiện theo các quy định tại thời điểm phê duyệt đề tài, dự án.
3. Đối với các đề tài dự án được phê duyệt và giao năm 2007, do đã lập thuyết minh chi tiết bao gồm cả dự toán thực hiện, đã xác định và giao kinh phí khoán cho từng đề tài, do vậy không cần thực hiện khâu lập và phê duyệt dự toán mà chỉ cần lập kế hoạch kinh phí theo tiến độ thực hiện và thực tế triển khai có xác nhận của đơn vị chủ trì gửi về bộ phận tài vụ và bộ phận quản lý khoa học của đơn vị được giao quản lý kinh phí đề tài, dự án để làm căn cứ cấp phát và kiểm tra, giám sát tình hình thực hiện.
4. Trong quá trình thực hiện, nếu có nội dung phát sinh hoặc cần sửa đổi, bổ sung, các đơn vị đề nghị Giám đốc Học viện (qua Vụ Kế hoạch Tài chính) để điều chỉnh cho phù hợp./.
|
Nơi nhận:
- Ban Giám đốc
- Các Học viện trực thuộc
- Các Vụ, Viện tại Trung tâm Học viện
- Lưu VT, KH - TC. |
KT. GIÁM ĐỐC
PHÓ GIÁM ĐỐC
(đã ký)
Vũ Đình Hoè |
Nguồn: Vụ Kế hoạch - Tài chính