VỀ CUỘC KHỦNG HOẢNG TÀI CHÍNH TOÀN CẦU HIỆN NAY
PGS, TS NGUYỄN ĐÌNH KHÁNG(*)
Cuộc khủng hoảng tài chính toàn cầu hiện nay lan tỏa từ khủng hoảng tài chính Mỹ, bắt nguồn từ chính sách cho vay tín dụng dưới chuẩn (hay còn gọi là tín dụng thế chấp rủi ro cao đối với thị trường bất động sản), thực hiện chính sách tiền tệ nới lỏng, "đồng USD rẻ" duy trì trong thời gian dài của chính quyền Mỹ, trong khi thiếu cơ chế giám sát chặt chẽ của Chính phủ, đã dẫn đến sự hình thành "siêu bong bóng" tài chính và bất động sản.(*)Sự phát triển của nhiều dịch vụ và sản phẩm tài chính mới trong lĩnh vực tài chính ngân hàng, biến đổi các khoản cho vay thành công cụ đầu tư, khiến thị trường tín dụng phục vụ cho thị trường bất động sản trở thành sân chơi cho nhiều nhà đầu tư trong và ngoài nước. Chính việc phá sản của các tập đoàn như Fannie Mae và Freddie Mac và các ngân hàng lớn như Lehman Brothers (ngân hàng đầu tư lớn thứ 5 của Mỹ), City Bank Group đã dẫn đến phản ứng dây chuyền đổ vỡ. Đã có gần 1.200 ngân hàng Mỹ nộp đơn xin trợ cấp từ Chương trình hỗ trợ của Chính phủ để tránh lâm vào khủng hoảng. Chỉ trong 2 tháng đầu năm 2009 đã có 16 ngân hàng Mỹ bị giải thể. Theo báo cáo về thực trạng ngành ngân hàng Mỹ của Tập đoàn Bảo hiểm tiền gửi Liên bang Mỹ (FDIC) ngày 26-2-2009, số ngân hàng Mỹ đối mặt với khả năng bị giải thể tính tới quý 4-2008 đã lên tới mức cao nhất trong vòng 15 năm trở lại đây, bao gồm 252 ngân hàng, tăng gần 1,5 lần so với con số 171 ngân hàng trong bản danh sách công bố vào cuối quý 3-2008. Đây là số ngân hàng Mỹ bên bờ vực đổ vỡ cao nhất kể từ năm 1995 trở lại đây, chiếm khoảng 3% trong tổng số khoảng 8.500 ngân hàng và tổ chức tiết kiệm mà FDIC đang đứng ra bảo hiểm. Tình trạng khó khăn, đổ vỡ trong lĩnh vực tài chính - ngân hàng đã lan tỏa đến các ngành sản xuất kinh doanh như công nghiệp ôtô, xây dựng... Kinh tế Mỹ lâm vào suy thoái với tốc độ nhanh, tăng trưởng kinh tế quý 3-2008 ở mức - 0,3%, quý 4-2008 là - 6,2%. Mức chi tiêu của người tiêu dùng, vốn đóng góp tới hai phần ba vào sự tăng trưởng kinh tế Mỹ, suy giảm mạnh nhất kể từ năm 1980. Thâm hụt ngân sách liên bang trong năm tài khoá 2008 tăng mạnh tới mức kỷ lục 454,8 tỷ USD, cao gấp ba lần mức thâm hụt 161,5 tỷ USD trong tài khoá năm 2007. Theo dự báo của Văn phòng Ngân sách Quốc hội Mỹ (CBO), ngân sách Liên bang của Mỹ trong tài khoá 2008 - 2009 sẽ bị thâm hụt 1.200 tỷ USD, tương đương 8,3% GDP của Mỹ.
Tiếp theo Mỹ, nền kinh tế lớn thứ hai thế giới là Nhật Bản đã chính thức công bố lâm vào suy thoái kinh tế ngày 18-11-2008. Đây là lần đầu tiên kể từ năm 2001 kinh tế Nhật Bản rơi vào suy thoái. Trước đó, khu vực đồng tiền chung Euro cũng lần đầu tiên rơi vào suy thoái kể từ khi hình thành năm 1999. Số liệu thống kê cho thấy, GDP của 15 nước sử dụng đồng tiền chung Euro đã tăng trưởng âm liên tiếp trong quý 2 và quý 3-2008. Đặc biệt trầm trọng đối với những nền kinh tế lớn trong khối như Đức là nền kinh tế lớn nhất châu Âu và đứng thứ ba thế giới chính thức rơi vào cuộc suy thoái lớn nhất trong vòng 12 năm qua, kinh tế Anh cũng lâm vào suy thoái, theo dự báo năm 2009 sẽ chịu mức sút giảm mạnh nhất kể từ gần hai thập niên qua, số người thất nghiệp có thể lên tới 3 triệu người vào năm 2010. Số liệu thống kê của Italia cho biết, nền kinh tế nước này cũng đang rơi vào suy thoái, đây là cuộc suy thoái nặng nề nhất kể từ năm 1992. Trong khi đó, tốc độ tăng trưởng kinh tế bình quân của các nước Trung và Đông Âu năm 2008 chỉ còn 3,2% so với mức 5,4% năm 2007. Đồng tiền của nhiều quốc gia ở đây vì thế đã sụt giảm mạnh tỷ giá so với Euro, khiến lượng nợ Euro mà các nước này đang mang càng thêm khổng lồ. Dưới tác động của khủng hoảng tài chính toàn cầu, kinh tế Trung Quốc vốn được coi là một động lực tăng trưởng của kinh tế thế giới, sau nhiều năm tăng trưởng ở mức hai con số, đã giảm chỉ còn 9% trong quý 3-2008. Tăng trưởng GDP của Trung Quốc chỉ là 7,5% trong năm 2008, mức thấp nhất trong vòng 19 năm qua. Khủng hoảng tài chính tại Nga đang ngày càng trầm trọng khi đồng Rúp mất giá mạnh. Trong khi đó, nguy cơ thâm hụt ngân sách của Nga rất lớn và kinh tế khó khăn, bởi thời kỳ thịnh vượng nhờ giá dầu lửa cao đã chấm dứt. Nga đang thực hiện các giải pháp nhằm thoát ra khỏi cuộc khủng hoảng tài chính ngày càng nghiêm trọng. Hầu hết các nền kinh tế lớn ở Đông Nam Á đều định hướng xuất khẩu và phụ thuộc nhiều vào thương mại quốc tế và đầu tư nước ngoài. Do vậy, dù ở mức độ khác nhau các nước trong khu vực Đông Nam Á dễ bị tác động của xu hướng giảm sút thương mại và đầu tư trên thế giới hiện nay. Trước mắt, lĩnh vực xuất khẩu, thị trường chứng khoán và thị trường tiền tệ khu vực đang chịu ảnh hưởng mạnh của cuộc khủng hoảng tài chính toàn cầu. Xingapo là quốc gia đầu tiên ở Đông Nam Á rơi vào suy thoái trong năm 2008. Hàn Quốc và Thái Lan đã có biểu hiện của suy thoái kinh tế, trong bối cảnh đó Pakistan là nước châu Á đầu tiên kêu gọi Quỹ tiền tệ quốc tế trợ giúp 6,5 tỷ USD.
Khủng hoảng thể chế quản lý tài chính ngân hàng là đặc trưng chủ yếu của cuộc khủng hoảng tài chính toàn cầu hiện nay. Do đó, việc thiết lập thể chế quản lý tài chính mới và khắc phục hậu quả sẽ còn diễn ra lâu dài và rất khó khăn. Đến nay, các quốc gia đã không thể tự giải quyết tình hình bằng các biện pháp đơn lẻ mà đang phải phối hợp hành động và đưa ra các biện pháp khẩn cấp và mạnh mẽ. Nhiều nước đã thành lập Ủy ban hoặc Tổ công tác chống khủng hoảng và đưa ra các kế hoạch khẩn cấp với nhiều biện pháp và khối lượng tiền lớn chưa từng có tiền lệ trong bối cảnh khủng hoảng tài chính toàn cầu tiếp tục gây hậu quả nghiêm trọng. Các kế hoạch kích thích nền kinh tế, chống khủng hoảng của các nước tập trung vào hỗ trợ các lĩnh vực, khu vực dễ bị tổn thương bởi khủng hoảng tài chính, ngăn chặn suy thoái kinh tế, đảm bảo an sinh xã hội và tạo cơ sở phát triển bền vững. Các nước phát triển (Mỹ, Nhật Bản, Hàn Quốc, Pháp...) đặt trọng tâm vào việc giải cứu các tập đoàn tài chính lớn khỏi nguy cơ sụp đổ, nỗ lực ổn định hoạt động của hệ thống tín dụng, ngân hàng và thị trường chứng khoán, qua đó tăng cường vai trò điều tiết của nhà nước đối với nền kinh tế. Đồng thời dành khoản tiền lớn cứu các ngành công nghiệp quan trọng, xương sống của nền kinh tế khỏi bị sụp đổ (ôtô, điện tử, xây dựng) và đầu tư vào công nghệ thông tin, viễn thông và các hoạt động nghiên cứu, phát triển năng lượng thay thế, vật liệu, công nghệ mới tiết kiệm năng lượng, thân thiện môi trường và có hàm lượng giá trị gia tăng cao để gia tăng khả năng cạnh tranh của hàng hoá. Trong khi đó, các nước đang phát triển (Trung Quốc, Ấn Độ, Thái Lan, Malaixia...) chủ yếu tập trung thúc đẩy xuất khẩu, kích cầu tiêu dùng nội địa và đẩy mạnh đầu tư công vào kết cấu hạ tầng, giao thông, nhà ở, bệnh viện, trường học và cải tạo môi trường, hỗ trợ các doanh nghiệp vừa và nhỏ và những ngành nghề tạo nhiều công ăn việc làm hoặc sử dụng nhiều lao động (dệt may, giày dép, thực phẩm...).
Các biện pháp chủ yếu được sử dụng để hạn chế tác động tiêu cực bao gồm: a) Cắt giảm lãi suất, điều chỉnh tỷ giá và bơm tiền vào hệ thống ngân hàng nhằm đảm bảo tính thanh khoản, thúc đẩy lưu thông tiền tệ, tạo điều kiện thúc đẩy sản xuất, nhất là các ngành kinh tế then chốt như xuất khẩu, sản xuất công nghiệp và xây dựng cơ bản; b) Hỗ trợ các doanh nghiệp tiếp cận vốn cho hoạt động sản xuất - kinh doanh (nhất là doanh nghiệp vừa và nhỏ) như bảo lãnh các khoản nợ, mua lại cổ phần hoặc cấp vốn trực tiếp cho các ngành sản xuất then chốt, lập quỹ đảm bảo tín dụng ngắn hạn, thành lập ngân hàng, quỹ đầu tư dành riêng cho doanh nghiệp vừa và nhỏ, các dự án nhỏ nông thôn, hỗ trợ các doanh nghiệp nhà nước trong các lĩnh vực giao thông, điện, dầu khí, viễn thông, truyền thông...; c) Kích cầu đầu tư và tiêu dùng nội địa, huy động vốn trong nước để bổ sung vào nguồn vốn đầu tư nước ngoài giảm sút: cắt giảm thuế cho các doanh nghiệp và cá nhân, giảm thuế nhập khẩu các nguyên liệu đầu vào sản xuất, giảm thuế cho các ngành dịch vụ sử dụng nhiều lao động, kích thích thị trường bất động sản tăng trưởng trở lại thông qua nới lỏng các quy định xây dựng các khu chung cư, mở rộng điều kiện cho người nước ngoài mua bất động sản và xây dựng căn hộ dành cho người dân thu nhập thấp, mở rộng các khoản cho vay miễn thuế để mua nhà, nâng tỷ lệ cho vay bất động sản, giảm và miễn thuế kinh doanh nhà ở...; d) Đẩy mạnh xúc tiến thương mại, mở rộng và đa dạng hoá thị trường xuất khẩu như tăng quy mô quỹ hỗ trợ, thành lập quỹ bảo hiểm xuất khẩu, nới rộng các tiêu chuẩn thương mại gia công, đơn giản hoá thủ tục thông quan, tăng giá thu mua lương thực và trợ giá cho nông dân sản xuất nông nghiệp...; e) Đưa ra nhiều biện pháp đảm bảo an sinh xã hội như tăng trợ cấp và kéo dài thời gian được hưởng trợ cấp thất nghiệp, giảm thuế đối với người có thu nhập thấp, giảm phí bảo hiểm y tế, bảo hiểm xã hội, tăng chi phúc lợi xã hội, tăng cường đào tạo nghề...
Thực tế cho thấy, thể chế quản lý tài chính - ngân hàng được áp dụng từ nhiều năm nay tại các nước phát triển, đặc biệt Mỹ, EU, Nhật Bản đã không theo kịp sự phát triển của khu vực tài chính ngân hàng và không còn phù hợp với xu thế toàn cầu hóa. Thể chế quản lý "bó hẹp" trong phạm vi một nền kinh tế không theo kịp với các hoạt động kinh tế, tài chính - ngân hàng đang diễn ra mạnh mẽ, vượt ra khỏi biên giới quốc gia, ngày càng liên thông giữa các nền kinh tế và các thị trường. Các tập đoàn tài chính - ngân hàng hoạt động và phát triển trong sự liên kết và phụ thuộc lẫn nhau trên phạm vi toàn cầu. Do đó, khi một tập đoàn tài chính sụp đổ hay một ngân hàng tại Mỹ phá sản có thể gây thiệt hại nặng nề cho các công ty các nước EU, Nhật Bản, thậm chí cả Trung Quốc. Theo ước tính, khoảng 15% số vốn của các tổ chức tài chính ngân hàng lớn của Mỹ đã phá sản thuộc về các tổ chức của Nhật Bản, riêng các ngân hàng của Trung Quốc đã có khoảng 670 triệu USD tài sản liên quan đến ngân hàng Lehman Brothers bị phá sản, trong lúc ngân hàng này có lịch sử 158 năm hoạt động, quản lý 639 tỷ USD tài sản, 25 nghìn nhân viên và có chi nhánh ở hầu hết các nước trên thế giới. Chính vì vậy, cuộc khủng hoảng tài chính toàn cầu hiện nay đã và đang buộc các nước phải xem xét quản lý đối với hoạt động tài chính - ngân hàng. Vai trò điều tiết của nhà nước bị suy giảm trong xu thế toàn cầu hóa và quốc tế hóa. Chính phủ các nước không kiểm soát được các hoạt động đầu cơ quốc tế và buông lỏng quản lý chính sách tài khóa - tiền tệ là nguyên nhân dẫn tới sự hỗn loạn hệ thống tài chính. Thực tế thời gian qua, chính phủ Mỹ và một số nước phát triển theo quan điểm phát triển kinh tế thị trường tự do tuyệt đối, để thị trường tự điều chỉnh theo quan hệ cung - cầu, đặc biệt trong lĩnh vực tài chính - ngân hàng. Các chính sách quản lý, các điều kiện cho vay được nới lỏng. Các tập đoàn tài chính - ngân hàng đã triệt để lợi dụng các chính sách này để làm trò ảo thuật, làm tăng nhiều lần giá trị thật của tài sản, thao túng thị trường, tìm cách vượt ngoài tầm kiểm soát của các cơ quan chức năng. Bên cạnh đó, thâm hụt ngân sách, thương mại lớn, kéo dài và chính sách đồng USD "yếu" của Mỹ đã thu hút một lượng vốn lớn chảy vào Mỹ, tăng mức độ toàn cầu hóa và sự phụ thuộc ngày càng lớn của kinh tế thế giới vào kinh tế Mỹ. Cuộc khủng hoảng tài chính toàn cầu hiện nay cũng cho thấy sự cần thiết phải thay đổi cấu trúc kinh tế thế giới đang bộc lộ nhiều bất cập. Các tổ chức tài chính kinh tế quốc tế như IMF, WB mặc dù được thành lập ra chủ yếu nhằm phục vụ lợi ích của các nước giàu nhưng cũng đã phản ứng quá chậm và không thể đưa ra các biện pháp có thể giải quyết tình trạng khủng hoảng đối với các nước giàu chịu ảnh hưởng hiện nay, chứ chưa nói tới mức độ toàn cầu. Ngay cả nhóm các nước công nghiệp phát triển (G7) cũng không thể tự mình giải quyết cuộc khủng hoảng và kêu gọi các nền kinh tế mới nổi như Trung Quốc, Ấn Độ, Nga... cùng phối hợp giải quyết. Trong bối cảnh các nền kinh tế lớn của thế giới như Mỹ, EU, Nhật Bản đều đang "lâm nguy", các nền kinh tế mới nổi đóng vai trò ngày càng quan trọng trong việc ổn định và duy trì đà tăng trưởng toàn cầu.
Khủng hoảng tài chính, chứng khoán, mất cân đối cung - cầu và lạm phát là ba yếu tố có mối quan hệ hữu cơ, tác động sâu sắc lẫn nhau, làm cho tình hình diễn biến phức tạp, khó lường. Sự phát triển nhanh chóng và mạnh mẽ của lĩnh vực tài chính - chứng khoán, ngân hàng thu hút nguồn vốn lớn của mỗi quốc gia và trên toàn cầu trong khi các lĩnh vực nghiên cứu khoa học, sản xuất của cải vật chất lại không được đầu tư thích đáng. Hậu quả là thị trường chứng khoán, bất động sản và tín dụng ngân hàng "tăng trưởng nóng" dẫn đến mất cân đối cơ cấu tài chính, khủng hoảng cơ cấu sản xuất ở tầm kinh tế vĩ mô. Sự bùng nổ của hệ thống ngân hàng, chứng khoán thúc đẩy tăng trưởng kinh tế khiến thu nhập và nhu cầu tiêu dùng tăng mạnh (đặc biệt là tại Mỹ và các nền kinh tế mới nổi như Trung Quốc, Ấn Độ...) làm mất cân đối cung - cầu, dẫn đến khủng hoảng hàng hóa, nổi bật là khủng hoảng năng lượng, khủng hoảng lương thực - thực phẩm đẩy giá các mặt hàng chiến lược, thiết yếu tăng đột biến và đạt kỷ lục từ trước đến nay, giá nhiều mặt hàng liên tục duy trì ở mức cao. Lạm phát tăng cao làm cho lãi suất ngân hàng ở mức cao, sản xuất trì trệ, thị trường bất động sản bị đóng băng, các nhà đầu tư bị vỡ nợ, nợ xấu của các ngân hàng gia tăng, thị trường chứng khoán sụt giảm và sự sụp đổ dây chuyền trong hệ thống tài chính ngân hàng là không thể tránh khỏi như đang xảy ra ở Mỹ, EU...
Cuộc khủng hoảng tài chính toàn cầu hiện nay đánh dấu sự phá sản của học thuyết kinh tế thị trường tự do mới kiểu Mỹ. Có thể nói, đây là sự khủng hoảng dẫn tới phá sản của mô hình chủ nghĩa tư bản với học thuyết kinh tế thị trường tự do mới mà định hướng chủ yếu là đẩy mạnh hoạt động của thị trường tự do, khuyến khích tư nhân hóa và hạn chế sự can thiệp kiểm soát của nhà nước. Suốt trong thời gian dài từ những năm 80 của thế kỷ XX đến nay, lý thuyết chi phối sự vận hành của nền kinh tế Mỹ bắt nguồn từ lý thuyết kinh tế thị trường tự do mới của Ronald Reagan và Margaret Thatcher. Cuộc khủng hoảng này đã bộc lộ đủ những tác hại do thị trường không chịu tiếp nhận sự quản lý và những thiếu sót của hệ thống kinh tế. Thực tế, để ngăn chặn sự lây lan của cuộc khủng hoảng, chính sách kinh tế của Chính phủ các nước phương Tây đang quay trở lại từ tự do thương mại sang nền kinh tế có sự can thiệp của nhà nước. Điều đó được thể hiện qua việc chính phủ nhiều nước phát triển theo học thuyết kinh tế thị trường tự do kiểu Mỹ như Anh, Pháp, Đức, Nhật Bản,...thời gian qua đã đưa ra các khoản cứu trợ nhiều tỷ USD, can thiệp vào chiến lược hoạt động và nắm giữ cổ phần của các ngành ngân hàng, sản xuất ôtô, ...
Khủng hoảng kinh tế thế giới sẽ tác động tiêu cực đến kinh tế Việt Nam năm 2009 và có thể những năm tiếp theo. Những ảnh hưởng dễ thấy nhất sẽ xảy ra trong hai lĩnh vực xuất khẩu và đầu tư trực tiếp nước ngoài. Đây là hai trụ cột quan trọng trong tăng trưởng kinh tế của Việt Nam. Vì thế, Việt Nam sẽ phải đối mặt với nhiều khó khăn, thách thức lớn. Nhiều định chế quốc tế lớn (IMF, ADB, BMI, City Group) dự báo tăng trưởng GDP Việt Nam 2009 là 5 - 5,2%, trong khi EIU dự báo chỉ đạt 4,3% và Deutsche Bank dự báo đạt 4,1%. Lạm phát Việt Nam năm 2009 sẽ dưới 10% (theo IMF), số người thất nghiệp năm 2009 có thể tăng lên 1 triệu người trong năm 2009. Thâm hụt ngân sách có thể lên tới 7% GDP, thâm hụt tài khoản vãng lai 10,5%. Tốc độ tăng xuất khẩu và nhập khẩu chỉ đạt tương ứng 3% và 8%, thâm hụt thương mại ở mức 14%. Kiều hối giảm, đạt khoảng 4 - 5 tỷ USD (năm 2008 là 8 tỷ USD; 2007: 6,7 tỷ USD). Thu hút đầu tư nước ngoài giảm mạnh (khoảng 20 tỷ USD), trong đó giải ngân có thể chỉ đạt 5 tỷ USD, giảm hơn 50% so với năm 2008 (theo HSBC). Thị trường chứng khoán sẽ rất khó khăn và nhiều biến động. Nguồn thu ngoại tệ phi mậu dịch, du lịch, xuất nhập lao động, kiều hối đều giảm. Hoạt động tín dụng có biểu hiện dừng lại, các ngân hàng đều có khó khăn về khả năng thanh toán. Suy giảm tăng trưởng GDP nghiêm trọng như hiện nay: quý 1-2009 chỉ tăng 3,1% - thấp nhất tính từ năm 1999.
Trước những diễn biến xấu đang xảy ra, Chính phủ Việt Nam đã đưa ra 5 nhóm giải pháp cấp bách thực hiện chủ trương kích cầu đầu tư và tiêu dùng (khoảng 6 tỷ USD, trong đó có khoảng 1 tỷ USD dùng để hỗ trợ lãi suất cho vay của các ngân hàng với mức 4%), nhằm ngăn chặn suy giảm kinh tế, tạo sức đề kháng cho nền kinh tế chống đỡ với những ảnh hưởng tiêu cực từ cuộc khủng hoảng hiện nay. Trong đó, tập trung thúc đẩy sản xuất, kinh doanh, đặc biệt chú trọng cao như chế biến, dệt may, giày dép... Mặc dù vậy, giải quyết hậu quả của cuộc khủng hoảng hiện nay là điều không đơn giản bởi tác động ảnh hưởng của khủng hoảng hiện mới bắt đầu tác động. Hơn nữa, phạm vi, quy mô và tính chất của cuộc khủng hoảng hiện nay đòi hỏi phải có sự nỗ lực của bản thân mỗi quốc gia, đồng thời cần có sự phối hợp chặt chẽ, linh hoạt và thiện chí của các nước khác.
Trong bối cảnh hiện nay, các cơ quan chức năng Việt Nam cần tập trung nghiên cứu các cơ chế, chính sách phù hợp để triển khai nhanh chóng biện pháp kích cầu đầu tư và tiêu dùng của Chính phủ để tăng tính hiệu quả, đảm bảo sự ổn định và phát triển nền kinh tế vĩ mô, đảm bảo tăng trưởng bền vững, đi đôi với ổn định môi trường, giải quyết an sinh xã hội, phát triển giáo dục, sức khỏe, hạn chế tiêu cực xã hội,... Đồng thời, thực hiện các biện pháp, cơ chế giám sát hiệu quả nhằm đảm bảo sử dụng đúng hiệu quả nguồn hỗ trợ của Chính phủ cho các hoạt động kinh tế, đặc biệt chú trọng tới hoạt động chi tiêu công và hoạt động của các quỹ hỗ trợ cho sản xuất kinh doanh của các doanh nghiệp và tạo việc làm cho người lao động. Mở rộng thị trường cho vay tín dụng ở nông thôn để kích thích đầu tư, phát triển các ngành nghề trong khu vực nông thôn; đầu tư phát triển nông nghiệp để tạo công ăn việc làm ở khu vực này. Triển khai các biện pháp an sinh xã hội nhằm tránh các tác động tiêu cực từ xu hướng người lao động thất nghiệp ở thành thị gia tăng đang đổ dồn về các khu vực nông thôn. Đầu tư nghiên cứu đẩy mạnh quá trình chuyển dịch cơ cấu các mặt hàng xuất khẩu theo hướng đa dạng hóa sản phẩm và tăng tỷ lệ hàng có giá trị gia tăng và hàm lượng chất xám cao, nâng cấp hàm lượng công nghệ trong sản phẩm xuất khẩu. Nâng cao sức cạnh tranh của các ngành công nghiệp để đáp ứng nhu cầu thế giới khi nền kinh tế các nước hồi phục. Hoàn thiện hệ thống giám sát, quản lý, kiểm nghiệm, kiểm dịch hàng hóa xuất khẩu, bảo hiểm rủi ro xuất khẩu để nâng cao sức cạnh tranh của hàng xuất khẩu. Củng cố hệ thống ngân hàng tài chính, cải tiến công tác quản lý ngoại hối giám sát hoạt động tín dụng... nhằm hỗ trợ thúc đẩy sản xuất, chuyển dịch cơ cấu sản xuất và xuất nhập, huy động vốn trong dân và giúp các doanh nghiệp tiếp cận với nguồn vốn dễ dàng, kịp thời xử lý các rủi ro, tiêu cực phát sinh. Tăng cường công tác thị trường, nắm tình hình qua các chủ trương, chính sách đối phó của các nước trước tác động của cuộc khủng hoảng tài chính. Trên cơ sở đó, xây dựng các đối sách phù hợp trong quan hệ hợp tác kinh tế quốc tế, nhất là trong hoạt động ngoại thương, hạn chế thấp nhất những tác động tiêu cực từ xu hướng bảo hộ mậu dịch đang có nguy cơ gia tăng. Tăng cường vai trò và hiệu quả của các cơ quan đại diện Việt Nam ở nước ngoài trong việc hỗ trợ các doanh nghiệp khai thác các thị trường xuất khẩu, nhất là các thị trường mới. Đẩy nhanh tiến độ xây dựng các công trình hạ tầng phục vụ dân sinh, như xây dựng nhà ở cho người thu nhập thấp, kiên cố hóa nhà ở khu vực nông thôn, nâng cấp hệ thống điện, trường, trạm và nước sạch ở khu vực nông thôn, miền núi, hải đảo, vùng sâu vùng xa, nhằm tạo việc làm, cải thiện đời sống nhân dân, góp phần ổn định kinh tế - xã hội. Đẩy mạnh hợp tác song phương và đa phương, nhất là quan hệ hợp tác kinh tế, thương mại, đầu tư, vừa nhằm ngăn chặn suy giảm kinh tế trong nước, vừa nâng cao vị thế, sức mạnh kinh tế cũng như tăng cường vai trò của Việt Nam trong việc tham gia phối hợp giải quyết các vấn đề quốc tế.
(1),(4),(5),(6) ĐCSVN: Văn kiện Hội nghị lần thứ tư Ban Chấp hành Trung ương khóa X, Nghị quyết số 09-NQ/TW, ngày 9-2-2007 Về Chiến lược Biển Việt Nam đến năm 2020, NXB Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2007, tr.71, 75, 78, 90.
(2) ĐCSVN: Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ IX, NXB Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2001, tr.181-182.
(3) ĐCSVN: Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ X, NXB Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2006, tr.225.