"Học để làm việc, làm người, làm cán bộ. Học để phụng sự đoàn thể, phụng sự giai cấp và nhân dân, phụng sự Tổ quốc và nhân loại. Muốn đạt được mục đích thì phải cần, kiệm, liêm, chính, chí công, vô tư". (Hồ Chí Minh)

 Chi tiết bài viết
GS,TS Lê Hữu Nghĩa : “50 năm cách mạng Cuba và quan hệ Việt Nam - Cuba”

BÁO CÁO ĐỀ DẪN

HỘI THẢO KHOA HỌC “50 NĂM CÁCH MẠNG CUBA VÀ QUAN HỆ VIỆT NAM - CUBA”

                                          GS, TS  Lê Hữu Nghĩa

                                         Giám đốc Học viện CT-HC quốc gia Hồ Chí Minh

 

Thưa các đồng chí đại biểu!

Thưa đồng chí Đại sứ Cuba tại Việt Nam!

          Hôm nay nhân kỷ niệm 50 năm cách mạng Cuba (01/01/1959 - 01/01/2009), Học viện Chính trị - Hành chính quốc gia Hồ Chí Minh chủ trì phối hợp với các cơ quan tổ chức Hội thảo khoa học với chủ đề “50 năm cách mạng Cuba và quan hệ Việt Nam - Cuba”.  Cho phép tôi, thay mặt toàn thể cán bộ công chức Học viện, nhiệt liệt chào mừng đồng chí Đại sứ Cuba, các đồng chí đại biểu, các nhà khoa học, chúc các đồng chí Việt Nam và Cuba sức khoẻ, hạnh phúc, thành công !

          Trong khuôn khổ bài phát biểu đề dẫn Hội thảo, xin được tập trung nhấn mạnh một số nội dung sau đây:

1. Cách mạng Cuba là biểu hiện sinh động và thắng lợi vẻ vang của con đường độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội

Sự nghiệp đấu tranh chống chế độ thực dân, giải phóng dân tộc, tuy được mở đầu và thành công khá sớm ở Mỹ La tinh, nhưng lại diễn ra lâu dài và đầy khó khăn ở Cuba. Nguyên nhân là do thực dân Tây Ban Nha, sau khi mất toàn bộ thuộc địa Mỹ La tinh, đã lui về cố thủ ở Cuba, quốc đảo lớn nhất vùng Vịnh Caribê; bắt đầu từ cuối thế kỷ XIX, chủ nghĩa đế quốc Mỹ bắt đầu chính sách can thiệp, bành trướng đầy tham vọng vào cái sân sau Mỹ La tinh. Bởi vậy, cách mạng giải phóng dân tộc của Cuba phải đối mặt với hai kẻ thù: chủ nghĩa thực dân Tây Ban Nha cổ hủ, lạc hậu và chủ nghĩa đế quốc Mỹ hùng mạnh, cường quyền. Sau chiến tranh thế giới lần thứ hai, các phong trào đấu tranh cách mạng ở Cuba đều bị đế quốc Mỹ và các chính quyền tay sai, phản động đẩy vào tình trạng khủng hoảng, thất bại.

Trong bối cảnh ấy, cuộc tiến công pháo đài Môn-ca-đa (26-7-1953) nổ ra như dấu hiệu mở đầu giai đoạn đấu tranh mới của cách mạng giải phóng ở Cuba: đấu tranh bằng bạo lực cách mạng dưới sự lãnh đạo của lực lượng chính trị tiền phong vì các mục tiêu độc lập dân tộc, giải phóng lao động, công bằng và tiến bộ xã hội. Sau Môn-ca-đa, là cả một quá trình chuẩn bị, xây dựng lực lượng cách mạng để con tàu Gran-ma rẽ sóng về Đất Mẹ (12-1956) mang theo 82 chiến sĩ triển khai và lãnh đạo cuộc chiến tranh du kích đến thắng lợi cuối cùng. Ngày 1-1-1959, cách mạng Cuba thành công, chế độ độc tài Ba-ti-xta phản động, thân Mỹ bị lật đổ và chính quyền cách mạng của nhân dân lao động được xác lập. Hệ thống thuộc địa kiểu mới của chủ nghĩa đế quốc bị phá tung một mắt xích chiến lược ở Tây bán cầu. Cuba trở thành Hòn đảo Tự do đầu tiên ở lục địa châu Mỹ.

Tuy quá trình diễn biến chính trị - xã hội ở Cuba trước và ngay sau tháng 1-1959  chưa bộc lộ tính chất xã hội chủ nghĩa, nhưng chính quyền Mỹ vẫn nhận thấy đây là một cuộc cách mạng thật sự, khác với những gì đã từng xuất hiện ở hòn đảo này trong suốt nửa thế kỷ, từ năm 1902 đến 1959. Để loại trừ “hiểm hoạ”, chính quyền Mỹ ráo riết  triển khai kế hoạch chống phá cách mạng Cuba bao gồm các bước đi, biện pháp, thủ đoạn khá toàn diện từ thấp đén cao: ban đầu là gây sức ép ngoại giao và xuyên tạc tư tưởng; tiếp đến là phá hoại kinh tế, gây mất ổn định xã hội và âm mưu bạo loạn lật đổ; cuối cùng là dùng sức mạnh quân sự để đổ bộ, xâm lược. Ngày 17-4-1961, hơn 1.200 lính đánh thuê được CIA và Lầu năm góc huấn luyện, trang bị, tổ chức và chỉ huy, đã liều lĩnh đổ bộ lên bãi biển Hy-rông, nằm ở miền Trung Cuba, cách thủ đô La Habana khoảng 500 km.

Nhưng đế quốc Mỹ đã mắc sai lầm nghiêm trọng. Chỉ trong vòng hơn 2 năm xây dựng, chính quyền và nhân dân Cuba đã tăng cường một cách đáng kể sức mạnh tổng lực của cách mạng. Những chính sách cải cách ruộng đất, cải cách đô thị, quốc hữu hoá các công ty nông nghiệp, công nghiệp và dịch vụ của tư bản Mỹ đã phá tung cơ cấu kinh tế lệ thuộc, giải phóng sức sản xuất và tạo ra tiến bộ vượt bậc của nền kinh tế đất nước ngay trong bối cảnh bị bao vây, chống phá. Hàng triệu nông dân và công nhân trở thành người làm chủ tư liệu sản xuất, làm chủ các quá trình kinh tế quốc gia; hàng triệu nhân dân được xoá nạn mù chữ và được hưởng thành quả của chính sách xã hội tiến bộ do chính quyền cách mạng ban hành. Rõ ràng, cơ sở xã hội của cách mạng đã được mở rộng và củng cố.Trên lĩnh vực chính trị, chính quyền cách mạng đã giải tán triệt để quân đội của chính quyền cũ, đồng thời, các lực lượng chính trị tiền phong đã hợp nhất lại thành một tổ chức duy nhất lãnh đạo sự nghiệp cách mạng. Những tiểu đoàn dân quân tự vệ đã ra đời trên khắp đất nước, biến gần 10 triệu người Cuba ngày ấy thành một dân tộc - chiến sĩ trong sắc phục màu xanh ô liu kiên quyết bảo vệ độc lập dân tộc, chủ quyền quốc gia và tự do, phẩm giá của con người.

Với sự chuẩn bị lực lượng có hiệu quả cả về vật chất và tinh thần; cả kinh tế, xã hội và quân sự, chính trị, tư tưởng; cả trong nước và quan hệ đối ngoại, quân và dân Cuba tự tin, bình tĩnh bước vào cuộc chiến đấu với đế quốc Mỹ và tay sai phản động. Trước hơn nửa triệu người tham dự cuộc mít tinh được tổ chức tại Quảng trường cách mạng ngày 16-4-1961 để truy điệu các liệt sĩ đã hy sinh trong cuộc không kích của địch ngày hôm trước, lãnh tụ Phiđen Caxtrô đã công khai tuyên bố tính chất xã hội chủ nghĩa của cuộc cách mạng Cuba. Từ đó trở đi, Cuba trở thành tiền đồn của chủ nghĩa xã hội ở Tây bán cầu .

Thực tiễn cách mạng Cuba làm sáng tỏ một sự thật là, trong thời đại ngày nay, sự phát triển triệt để của cuộc đấu tranh chống chủ nghĩa đế quốc, vì các mục tiêu độc lập dân tộc, dân chủ và tiến bộ xã hội hoàn toàn có thể chuyển hoá thành cách mạng xã hội chủ nghĩa. Sự gặp gỡ giữa giai cấp và dân tộc; giữa độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội là tự nhiên và là một trong những khuynh hướng lịch sử không thể phủ nhận.

2. Cách mạng Cuba là biểu hiện không gì bác bỏ được về sức mạnh và ưu việt của chế độ xã hội chủ nghĩa

Mỗi lực lượng tiến bộ đến với chủ nghĩa Mác - Lê-nin, mỗi quốc gia xã hội chủ nghĩa đến với chủ nghĩa xã hội bằng một con đường riêng. Lực lượng lãnh đạo chủ yếu của cách mạng Cuba, với tên gọi giản dị Phong trào 26-7, khi mở đầu sự nghiệp giải phóng dân tộc chưa hề được ánh sáng của chủ nghĩa Mác - Lê-nin dẫn dắt. Ngay cả sau cột mốc 1-1-1959, khi lãnh đạo chính quyền nhân dân tiến hành các cuộc cải tạo kinh tế - xã hội sâu sắc, đội tiền phong chính trị của cách mạng Cuba cũng chỉ hành động trên nền tảng tư tưởng tiến bộ của dân tộc, kết tinh trong tư tưởng Hô-xê Mác-ti. Sự vận động tiếp theo của cuộc cách mạng, nhất là từ thời điểm phải đương đầu với sức mạnh của đế quốc Mỹ trên bãi biển Hy-rông (4-1961) đã đưa những người cách mạng Cuba từ mục tiêu độc lập dân tộc đến chủ nghĩa xã hội một cách rất tự nhiên và đáp ứng đúng đắn đòi hỏi nội tại của đất nước. Chủ nghĩa xã hội ở Cuba là sự lựa chọn của lịch sử, bởi vậy vận mệnh của nó không bị quyết định bởi các nhân tố bên ngoài.

Ngay sau năm 1959, Đảng và nhân dân Cuba đã cải tạo căn bản nền kinh tế đất nước, tạo ra cơ sở vật chất - kỹ thuật ban đầu quan trọng cho chế độ xã hội chủ nghĩa. Trước cách mạng, hòn đảo Cuba là một thuộc địa lệ thuộc nặng nề về kinh tế  vào tư bản và thị trường Mỹ. Gần 60% sản lượng đường, hơn 60% thương mại, 70% đất đai Cuba nằm trong tay các tập đoàn tư bản độc quyền Mỹ[1][1]. Chỉ trong thời gian rất ngắn, nền kinh tế Cuba đã thoát khỏi sự lệ thuộc nguy hiểm này; đồng thời đạt mức tăng trưởng cao, từng bước hình thành cơ cấu kinh tế hợp lý, hiện đại. Từ năm 1976 đến 1980, tăng trưởng bình quân hàng năm đạt 4% trong khi năng suất lao động tăng 3,4%/năm. Đây là 5 năm Cuba tập trung xây dựng kết cấu hạ tầng đạt trình độ hiện đại. Những năm của thập niên 80 thế kỷ XX là giai đoạn khởi sắc nhất của kinh tế Cuba. Những thành tựu kinh tế đó đã đem lại cho chủ nghĩa xã hội ở Cuba nội lực vật chất tuy chưa lớn về số lượng, nhưng có giá trị củng cố nền móng ban đầu và chống đỡ những khó khăn, tai hoạ dồn dập vừa qua..

Cũng như các nền kinh tế xã hội chủ nghĩa khác, đến giữa thập niên 80 của thế kỷ XX, kinh tế Cuba bộc lộ nhiều hạn chế, yếu kém như: sự tụt hậu về trình độ công nghệ, chất lượng sản xuất nguyên vật liệu thấp, quản lý kinh tế không hiệu quả, sử dụng lao động bất hợp lý, mất cân đối nghiêm trọng giữa mức lương bình quân khá cao và năng suất lao động thấp... Giữa năm 1986, trước khi Liên Xô tiến hành cải tổ. Đảng Cộng sản Cuba tổ chức Đại hội lần thứ III khởi xướng quá trình sữa chữa sai lầm và các khuynh hướng tiêu cực. Các biện pháp cải cách cần thiết đã được triển khai trên lĩnh vực kinh tế như: chấm dứt kiểu kế hoạch hoá hành chính đối với kinh tế; áp dụng chế độ sử dụng hợp lý các nguồn lực vật chất; phê phán khuynh hướng nhập khẩu tràn lan; khuyến khích các giải pháp trong nước thay thế nhập khẩu nhằm giảm thiểu sự phụ thuộc của kinh tế đất nước vào các yếu tố bên ngoài; thử nghiệm mô hình tổ chức - quản lý sản xuất mới bằng cách thành lập các đội lao động tự quản, tự hạch toán và trả lương theo sản phẩm trong ngành xây dựng; áp dụng chính sách khuyến khích vật chất và tinh thần đối với người lao động; cắt giảm một số dịch vụ miễn phí... Những bước đi đầu tiên mang tính tự chủ, cải cách và sáng tạo này đem lại kết quả khả quan: tạo ra động lực mới cho một số ngành kinh tế; đẩy mạnh áp dụng khoa học, kỹ thuật, công nghệ hiện đại vào sản xuất như kỹ nghệ gen, công nghệ sinh học, công nghệ điện tử; phát triển các chương trình quốc gia sản xuất lương thực - thực phẩm, trồng rừng và du lịch; khôi phục năng lực thuỷ điện; tăng qui mô xây dựng đường giao thông, trường học, bệnh viện... Trước khi Liên Xô tan rã, Cuba đã có 4 - 5 năm chủ động cải cách kinh tế với các biện pháp phù hợp, với sự tham gia của đông đảo các tầng lớp nhân dân và đã đạt một số kết quả đáng ghi nhận. Tuy quy mô và hiệu quả của cải cách ban đầu còn rất khiêm tốn, nhưng lại là sự chuẩn bị quan trọng trên nhiều mặt để đất nước đối phó thành công với ngút ngàn sóng cồn, gió cả từ năm 1991 trở đi.

Sự tan rã của Liên Xô và chế độ xã hội chủ nghĩa ở Đông Âu; sự xuất hiện làn sóng các chính phủ cánh hữu trên chính trường thế giới, câu kết chặt chẽ với chính quyền Mỹ trong cuộc phản công chống phá chủ nghĩa cộng sản mà một trong những trọng điểm là Cuba; thêm vào đó là những thiên tai liên tiếp đổ về với các cơn bão và nạn hạn hán chưa từng có trong suốt 50 năm qua của Hòn đảo xanh - tất cả những khó khăn đó cộng hưởng với nhau gây ra hậu quả nặng nề đối với Cuba. Đất nước rơi vào hoàn cảnh chưa hề có tiền lệ, được Trung ương xác định là thời kỳ đặc biệt. Chưa bao giờ, sự sống còn của chế độ bị thách thức nghiệt ngã như thời gian nêu trên, nhất là vào năm 1993, được xem như thời điểm chạm đáy của nước Cuba xã hội chủ nghĩa.

Vào đúng thời điểm tột đỉnh của thử thách lịch sử, cuối năm 1993, Trung ương Đảng và Chính phủ Cuba tuyên bố cải cách và mở cửa kinh tế. Tiếp đó, Đảng và Nhà nước lãnh đạo, chỉ đạo triển khai hàng loạt chủ trương, chính sách, biện pháp trên mọi lĩnh vực nhằm duy trì cải cách và củng cố chủ nghĩa xã hội. Những chính sách, biện pháp cải cách kinh tế đã đem lại kết quả tích cực. Năm 1995 đánh dấu cột mốc khởi sắc, nền kinh tế dần dần khôi phục sự cân bằng. Tính chung, từ 1994 đến 2000, GDP tăng bình quân 4,3%/năm. Những năm tiếp theo (2001-2006), trung bình hàng năm GDP tăng 6,3%, năm 2007 tăng 7,3% và dự kiến năm 2008 tăng gần 8%.Nhờ kinh tế tăng trưởng khá, thâm hụt ngân sách từ 33,5% GDP năm 1993 giảm xuống chỉ còn trên dưới 3% suốt từ 1996 đến 2007. Tỷ lệ lạm phát, thể hiện ở chỉ số giá tiêu dùng, từ ba con số trong thời kỳ đặc biệt giảm xuống còn một con số trong những năm gần đây. Xét về chất lượng, kinh tế Cuba ngày nay có bước tiến quan trọng so với trước kia. Đó là kết quả của đường lối tự chủ, chủ động; là một mô hình sáng tạo, phù hợp với điều kiện và đặc thù của Cuba; là một nền kinh tế chứa đựng sự tham dự rộng lớn của các tầng lớp nhân dân - những người quyết định mọi giải pháp chiến lược và biện pháp cụ thể. Trong bối cảnh hết sức khó khăn của thời kỳ đặc biệt và trong khi hầu hết các nền kinh tế Mỹ La tinh lâm vào suy thoái, khủng hoảng, thì sự thành công trong trụ vững và bứt phá kinh tế đó tạo ra một điều thần kỳ trên Hòn đảo Cuba tràn đầy sức sống. Hiện thực tự nó là câu trả lời thuyết phục nhất trước mọi giọng điệu mỉa mai, xuyên tạc từ phía các thế lực thù địch.

Rõ ràng là, những ưu việt của chế độ xã hội chủ nghĩa là nhân tố sâu xa nhất tạo nên sức mạnh cho nhân dân Cuba anh em trong những năm tháng xây dựng chủ nghĩa xã hội đầy khí thế từ đầu thập kỷ 60 đến cuối thập kỷ 80; trong những năm cải cách sáng tạo từ năm 1986 đến đầu thập kỷ 90 và trong những năm của Thời kỳ đặc biệt từ năm 1991 đến nay.

3. Cách mạng Cuba là hiện thân sinh động của chủ nghĩa quốc tế vô sản trong thời đại ngày nay

Cách mạng vô sản ở một nước thuộc địa chỉ có thể nổ ra và giành được thắng lợi nếu những lực lượng tiến hành nó, nhất là lực lượng lãnh đạo, biết đặt cuộc cách mạng ấy vào dòng chảy của thời đại, trở thành bộ phận hữu cơ của cách mạng thế giới. Đây chính là nội dung cơ bản của một trong những quy luật của cách mạng vô sản trong thời đại ngày nay mà chủ nghĩa Mác- Lênin vạch ra: quy luật về chủ nghĩa quốc tế vô sản.

ở Mỹ La tinh, định hướng quốc tế là một trong những nét đặc sắc nhất, độc đáo nhất của sự nghiệp cách mạng giải phóng dân tộc được Anh hùng Ximông Bôliva khởi xướng và lãnh đạo thành công ngay từ đầu thế kỷ XIX. Cuối thế kỷ XIX, lãnh tụ Hôxê Mácti đã tuyên bố: Ai đứng dậy vì Cuba chống chủ nghĩa đế quốc, người đó sẽ hành động vì cả nhân loại.

Như vậy là, từ những hướng khác nhau, tư duy cách mạng vô sản và tư duy chính trị tiến bộ Mỹ La tinh đã gặp nhau ở một lời khẳng định rằng cách mạng Cuba chỉ có thể xuất hiện, thành công và được bảo vệ bằng sức mạnh của chủ nghĩa quốc tế vô sản. Điều này đã được thực tiễn kiểm nghiệm và được nhân dân Cuba thực hiện một cách mẫu mực, tạo nên sức sống của cách mạng và chế độ xã hội chủ nghĩa Cuba trong mọi hoàn cảnh.

 Mấy chục năm qua, nhân dân Cuba đã chia sẻ từng cân đường, từng quyển vở, từng viên thuốc, thậm chí cả xương máu cho nhân dân nhiều dân tộc á, Phi, Mỹ La tinh trong cuộc chiến đấu vì những giá trị cao quý của con người. Từ năm 1961 đến 2001, có tổng số xấp xỉ 40.000 sinh viên nước ngoài được đào tạo miễn phí và tốt nghiệp tại Cuba. Hiện nay, tuy phải giải quyết nhiều khó khăn, đối mặt với nhiều thiếu thốn, Đảng và nhân dân Cuba vẫn đang nuôi dưỡng, đào tạo gần 20.000 sinh viên nước ngoài đến từ các nước kém phát triển và một số tầng lớp nghèo khổ của Mỹ; đồng thời có trên 30.000 người, chủ yếu là giáo viên và bác sĩ, đang làm nhiệm vụ quốc tế ở nước ngoài, do Chính phủ Cuba trả lương và bảo đảm các điều kiện làm việc khác. Nghĩa cử hào hiệp này đã tạo ra trên khắp thế giới biết bao vòng tay đoàn kết, hữu nghị, chiến đấu bên cạnh Cuba chống lại các thế lực đế quốc hiếu chiến. Với tính cách là diễn đàn và tổ chức quốc tế rộng lớn nhất, Liên hợp quốc hằng năm liên tiếp bỏ phiếu trong gần 15 năm qua (với mức đa số tuyệt đối) phê phán chính sách bao vây, cấm vận của chính quyền Mỹ chống phá Cuba. Bằng lá phiếu bảo vệ Cuba, cộng đồng quốc tế khẳng định nhân dân Cuba đang hành quân trên con đường chính nghĩa, con đường hoà bình chân chính, độc lập thật sự và phát triển toàn diện.

4. 50 năm quan hệ Việt Nam - Cuba thuỷ chung, trong sáng

Vào cuối thế kỷ XIX, lãnh tụ Hôxê Mácti đã viết truyện ngắn Một cuộc du hành trên đất nước của những người An Nam. Tác phẩm là bức khắc hoạ đầu tiên trong văn chương Mỹ Latinh về lịch sử, văn hoá và con người đất Việt. Tác giả Hôxê Mácti đã dành cho những con người An Nam tất cả tình cảm mến mộ, yêu thương, mặc dù ông chưa một lần được đặt chân lên đất nước châu. Với tác phẩm độc đáo, Hôxê Mácti là người đặt nền móng cho mối quan hệ giữa Cuba và Việt Nam. Tại  sao trong số nhiều quốc gia dân tộc Đông Nam Á, nhà văn Mỹ Latinh lại lựa chọn Việt Nam? Chắc hẳn vì ông cảm nhận rất sâu sắc sứ mệnh lịch sử chung của hai dân tộc Cuba và Việt Nam là châm bó đuốc giải phóng dân tộc cho loài người ở thời đại đế quốc chủ nghĩa .

Sự nghiệp đấu tranh giải phóng dân tộc của nhân dân các nước thuộc địa và phụ  thuộc từ cuối thế kỷ XIX, đầu thế kỷ XX đến nay đã hun đúc nên nhiều mối quan hệ thắm tình đoàn kết chiến đấu giữa các quốc gia dân tộc. Quan hệ Việt Nam - Cuba xứng đáng là mẫu mực và tấm gương đã được thể hiện và thử thách qua nhiều thời kỳ, năm tháng lịch sử. Ngày 1-12-1960, Chính phủ Cộng hoà Cuba và Chính phủ Việt Nam Dân chủ Cộng hoà thiết lập quan hệ ngoại giao, mở ra trang sử mới cho tình hữu nghị giữa hai dân tộc nằm ở hai nửa Đông - Tây của địa cầu. Đây là sự kết tụ tất yếu của mối quan hệ giữa những dân tộc xung kích đi đầu trong cuộc đấu tranh chung chống thực dân, đế quốc, vì độc lập dân tộc và tiến bộ xã hội trong thời đại chúng ta.

Từ 1960 đến nay, quan hệ Việt Nam - Cuba luôn luôn được Đảng, Chính phủ và nhân dân hai nước chăm sóc, vun trồng bằng tinh thần và hành động của chủ nghĩa quốc tế trong sáng nhất. Với ý thức cách mạng rằng cuộc chiến đấu chống Mỹ của nhân quân Việt Nam cũng là để bảo vệ hoà bình, độc lập và hạnh phúc cho các quốc gia á - Phi - Mỹ Latinh, trong đó có Cuba, Đảng và nhân dân Cuba đã dành cho Việt Nam sự ủng hộ về chính trị kịp thời, năng động và hiệu quả trong suốt những năm đánh Mỹ. Tháng 9 năm 1973, bất chấp khói lửa chiến trường, Chủ tịch Phiđen Caxtrô đã đến Quảng Trị, trở thành nguyên thủ quốc gia đầu tiên thăm vùng giải phóng miền Nam Việt Nam. Cuba cũng là nước đầu tiên cử Đại sứ bên cạnh Chính phủ cách mạng lâm thời Cộng hòa miền Nam Việt Nam. Đến ngày Sài Gòn được giải phóng(30 tháng 4 năm 1975), cả nước Cuba cũng tràn ngập cờ hoa và cả những dòng nước mắt - nước mắt trong ngày vui đại thắng của một dân tộc “vì Việt Nam sẵn sàng hiến dâng cả máu của mình”

Từ năm 1975 trở đi, Việt Nam và Cuba lại sát cánh bên nhau trong công cuộc xây dựng chủ nghĩa xã hội và bảo vệ Tổ quốc. Chủ tịch Phiđen Caxtrô một lần nữa thể hiện tình nghĩa thuỷ chung của hơn 10 triệu dân Cuba: “Nếu trước đây chúng ta sẵn sàng hiến dâng cả máu của mình thì ngày nay chúng ta sẵn sàng đổ mồ hôi để giúp Việt Nam xây dựng lại đất nước”. Hàng đoàn cán bộ, kỹ sư, bác sĩ, công nhân, kỹ thuật viên... Cuba đã lao động tình nguyện ở Việt Nam. Hàng loạt công trình thắm tình anh em Cuba - Việt Nam đã ra đời. Cuối năm 1982, Hiệp ước hữu nghị và hợp tác Cuba - Việt Nam được ký kết tại La Habana xác định khuôn khổ pháp lý cho mối quan hệ đoàn kết, hữu nghị giữa 2 nước. Nhân dịp này, Chủ tịch Phiđen Caxtrô đánh giá: “Giống như những dòng sông nhỏ phát sinh từ những vùng xa cách nhau và trong một thời gian dài đã trải qua những thác ghềnh và trong cảnh lẻ loi, hai dân tộc chúng ta đã trải qua lịch sử cho đến một lúc nhập vào dòng sông lớn và hùng vĩ của cách mạng xã hội chủ nghĩa”.

Những tấm lòng vàng của Cuba dành cho Việt Nam còn ngời sáng ở các diễn đàn và tổ chức quốc tế sau năm 1975. Trong bối cảnh phương Tây và các thế lực thù địch tìm mọi thủ đoạn bao vây, cô lập, chống phá Việt Nam trên trường quốc tế, Cuba vẫn thuỷ chung đứng bên cạnh Việt Nam, ủng hộ và bảo vệ với tư thế hiên ngang. Chúng ta mãi mãi ghi nhớ, biết ơn lập trường nhất quán và hoạt động quốc tế có hiệu quả của những người anh em Cuba trong những năm tháng cam go ấy.

Từ cuối thập kỷ 80, đầu thập kỷ 90 đời sống chính trị thế giới có nhiều biến động bất lợi đối với các nước xã hội chủ nghĩa và các lực lượng cách mạng. Sự tan rã của Liên Xô và sự sụp đổ của chế độ xã hội chủ nghĩa ở Đông Âu đã đặt Cuba và Việt Nam vào tình thế vô cùng khó khăn. Đảng và nhân dân hai nước lại cùng nhau bước vào cuộc chiến đấu mới để bảo vệ, duy trì, củng cố và phát triển chủ nghĩa xã hội trong tình hình mới. Một lần nữa, chủ nghĩa quốc tế trong sáng của những người cách mạng chân chính lại làm rạng rỡ những trang sử mới của mối quan hệ Việt Nam - Cuba trên mọi lĩnh vực chính trị, kinh tế, văn hoá, khoa học - kỹ thuật.

Với ý thức coi việc đoàn kết, ủng hộ và hợp tác với Cuba là một nguyên tắc, một mệnh lệnh của trái tim, Đảng, Nhà nước và nhân dân Việt Nam đã huy động nguồn lực kinh tế quý báu giúp nhân dân Cuba vượt qua những thiếu thốn vật chất trong thời kỳ đặc biệt. Các phong trào 20.000 tấn gạo, 5.000.000 xuất giấy bút, 5.000 bộ quần áo gửi tặng nhân dân Cuba đã được hoàn thành xuất sắc ở Việt Nam. Ngoài những món quà này, tuy rất khiêm tốn về khối lượng, nhưng thấm đượm nghĩa tình anh em “nhường cơm sẻ áo”, chia xẻ cả niềm vui chiến thắng và mọi thiếu thốn, khó khăn trong những thời điểm nghiệt ngã của lịch sử.

Sự củng cố và phát triển của mối quan hệ Việt Nam - Cuba là một trong những nhân tố góp phần bảo vệ và phát triển chủ nghĩa xã hội ở hai nước trong những năm qua. Công cuộc đổi mới ở Việt Nam và công cuộc cải cách ở Cuba đã tạo tiền đề và bổ sung cho nhau trên cả bình diện lý luận và thực tiễn xây dựng chủ nghĩa xã hội. Giới nghiên cứu và giảng dạy lý luận của hai Đảng, hai nước đã có nhiều hoạt động hợp tác thường xuyên, phong phú, trong đó có quan hệ gắn bó, hiệu quả giữa Học viện Chính trị - Hành chính quốc gia Hồ Chí Minh và Trường Đảng Cao cấp Cuba Nhicô Lôpết. Chúng ta hoàn toàn tin tưởng rằng, quan hệ Việt Nam Cuba mãi mãi là biểu tượng bất diệt của chủ nghĩa quốc tế trong sáng, vô tư và thuỷ chung nhất; mãi mãi là niềm tự hào của lớp lớp con cháu Hôxê Mácti và Hồ Chí Minh.

         Xin trân trọng cảm ơn các đồng chí !


[1]. Tất cả các số liệu trong bài viết đều được lấy từ các tài liệu chính thức của Đảng, Nhà nước Cu-ba, trong đó có www.cubaweb.cu, www.granma.cu và www.cubasocialista.cu

Ngày đăng:  02/01/2009
Số lần xem:  3501

Các tin đã đưa
  • Hệ thống chính trị cấp cơ sở các tỉnh miền Tây Nam bộ-Thực trạng và giải pháp
  • 60 năm Tuyên ngôn thế giới về nhân quyền - Giá trị thời đại và ý nghĩa với Việt Nam
  • Đề dẫn Hội thảo khoa học "Ý thức chính trị của cán bộ trẻ Học viện Chính trị - Hành chính quốc gia Hồ Chí Minh"
  •  Quay lại

    TRANG CHỦ      GIỚI THIỆU      THÔNG TIN HOẠT ĐỘNG      VĂN BẢN QUẢN LÝ      BÀI VIẾT CHUYÊN ĐỀ      SƠ ĐỒ WEBSITE      SEARCH      EMAIL      TIN NỘI BỘ      ENGLISH